Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2019

Thăng trầm ngành tôn mạ kẽm Việt Nam (Lược sử ngành tôn mạ kẽm VN)


A brief history of Vietnam's galvanizing industry.
Giai đoạn 1990 – 2000: Buổi bình minh của ngành tôn mạ kẽm Việt Nam.
Khoảng cuối thập niên 60, ở miền nam Việt Nam đã có một số nhà máy sản xuất tôn lá mạ kẽm, với công nghệ và thiết bị của Nhật Bản. Các dây chuyền này sử dụng tôn nguyên liệu dạng tấm để mạ, sử dụng phương pháp gia nhiệt bằng lớp chì trong chảo mạ. Chiều dày lớp kẽm bám trên hai mặt băng tôn được điều chỉnh bằng cách điều chỉnh khe hở một cặp trục, gọi là trục mạ. Có thể nói đây là giai đoạn sơ khai của ngành tôn mạ kẽm Việt Nam, giai đoạn này tôn nguyên liệu (thép cán nguội) chủ yếu nhập khẩu từ Liên Xô, Nhật Bản, Hàn Quốc. Sau năm 1975 các nhà máy này được tiếp quản và chuyển về nhà máy Vinaton. Từ khoảng năm 1987 -1991 là giai đoạn nhà máy Vinaton khôi phục lại sản xuất cho hai dây chuyền mạ tấm, cải tạo một số thiết bị để có thể thay thế phụ tùng ở Việt Nam.
Giai đoạn thành hình mạnh mẽ của ngành tôn mạ kẽm Viêt Nam có lẽ được khởi đầu khi tập đoàn thép Posco của Hàn Quốc ký kết hợp tác với nhà máy Vinaton để thành lập nên công ty liên doanh Posvina vào tháng 4/1992. Mặc dù mang danh nghĩa liên kết với một tập đoàn thép tầm cỡ thế giới lúc bấy giờ, tuy nhiên thực chất Posvina không được hỗ trợ kỹ thuật công nghệ gì về ngành mạ kẽm, thay vào đó đội ngũ kỹ thuật của nhà máy tự nghiên cứu và cải tạo dây chuyền từ mạ tấm (mạ lá) sang kiểu mạ cuộn, một số thiết bị được nhà máy tự thiết kế và đặt gia công chế tạo trong nước như máy xả cuộn và máy cuốn cuộn. Khi Posvina thực hiện xong việc cải tạo dây chuyền mạ lá thành mạ cuộn thì trong ngành cũng có một số nhà máy bắt đầu chế tạo lắp đặt dây chuyền mạ kẽm kiểu này. Mãi sau này đến năm 2002, Posvina mới nâng cấp dây chuyền mạ kẽm lên kiểu có hai tháp bù. Năm 2002 Posco E&C, một công ty con của Posco cung cấp dây chuyền mạ màu đầu tiên cho Posvina. Dây chuyền có tốc độ trung tâm lớn nhất 30 m/phút, công suất 22,000 tấn/năm. Lúc đó công suất nhà máy tôn mạ kẽm và mạ màu này là 40,000 tấn/năm. Posvina được xem như cái nôi đầu tiên trong việc cung cấp nhân lực kỹ thuật và công nghệ cho ngành tôn mạ kẽm của Việt Nam. Giai đoạn này sử dụng công nghệ mạ trục và trợ dung ướt (wet-flux) hoặc trợ dung khô (dry-flux), vẫn sử dụng phương pháp mạ từ tấm ra tấm (sheet to sheet) rất lạc hậu, công suất thấp, môi trường sản xuất đặc biệt độc hại do hơi lưu huỳnh chống ôxy hóa tại chảo mạ. Công nghệ mạ trục phổ biến trên thế giới trong khoảng từ những năm 1930-1970, vốn có giới hạn tốc độ lớn nhất chỉ 60 m/phút, tuy nhiên do vốn đầu tư cho dự án rất hạn chế thời bấy giờ nên Việt Nam vẫn phải sử dụng những công nghệ rất cũ, lạc hậu gần 30 năm so với thế giới. Mãi cho đến những năm 1998-99 công nghệ mạ ở Việt Nam cũng chưa có thay đổi lớn, chỉ trừ Posvina nâng cấp từ mạ tấm lên mạ cuộn (coil to coil) và lắp dao gió cho dây chuyền mạ, đánh dấu lần đầu công nghệ mạ dao gió được áp dụng tại nước ta. Công suất mạ toàn ngành rất thấp, chưa tới 100,000 tấn/năm.
Mốc hình thành một số nhà sản xuất tôn mạ kẽm chính như sau:
Năm 1996: Cty Liên doanh Maruviena đưa vào vận hành dây chuyền mạ kẽm đầu tiên.
Năm 1997: Cty Liên doanh Tôn Phương Nam bắt đầu vận hành dây chuyền mạ kẽm đầu tiên.
Năm 1998: Tôn Đông Á thành lập, năm 1999 đưa vào vận hành dây chuyền mạ kẽm đầu tiên.
Năm 1999: Tôn Phước Khanh đầu tư nhà máy mạ.
Năm 2001: Tôn Hoa Sen ra đời
Năm 2002: Tôn Nam Kim ra đời
Năm 2003: Tân Vạn Phúc xây dựng nhà máy mạ ở Long An
Năm 2004: Lilama đầu tư một nhà máy tôn mạ kẽm mạ màu ở Vĩnh Phúc, sau chuyển thành VN Steel Thăng Long.
Năm 2005: Bluescope Steel Vietnam đưa vào hoạt động nhà máy sản xuất thép mạ hợp kim nhôm - kẽm và mạ màu đặt tại khu công nghiệp Phú Mỹ 1, tỉnh BR-VT, sau đổi tên thành NS Bluescope.
Năm 2005: Sunsco (Maruichi Sun Steel) đưa vào hoạt động dây chuyền mạ kẽm đầu tiên tại Bình Dương, mặc dù đã được thành lập khá lâu trước đó, vào năm 1996 với tên Vina Tafong Iron & Steel.
Giai đoạn 2000 – 2010: Hình thành ngành và giai đoạn cấu trúc ngành lần thứ nhất.
Năng lực sản xuất của ngành mạ kẽm có một bước tiến lớn vào năm 2004, từ con số 100 ngàn tấn/ năm nhảy vọt lên hơn 500 ngàn tấn/năm. Đây là thời kỳ bùng nổ lần thứ nhất của ngành tôn mạ kẽm Việt Nam, thay đổi lớn nhất trong thời kỳ này là bắt đầu phổ biến ứng dụng công nghệ dao gió trong công đoạn mạ kẽm từ năm 2004. Công nghệ sử dụng không khí nén hoặc khí ni-tơ với áp suất thấp và lưu lượng cao để điều khiển lớp mạ chất lỏng vốn được sử dụng từ rất nhiều năm về trước trong ngành công nghiệp sản xuất giấy. Mãi cho đến những năm đầu thập niên 70 thì người ta mới sử dụng công nghệ này vào ngành mạ kẽm, đi đầu là nhà sản xuất thép mạ kẽm của Úc, John Lysaght, lúc đó họ có đã có 5 dây chuyền mạ kẽm liên tục sử dụng dao gió. Ở Việt Nam thì công nghệ mạ dao gió đầu tiên được triển khai tại nhà máy Posvina với thiết bị dao gió được cung cấp bởi GTE, một nhà cung của Hàn Quốc, lắp đặt và đưa vào hoạt động trong năm 1998.
Dù sản xuất trong nước có sản lượng nhảy vọt tới năm lần so với năm 2000 thì nhu cầu tôn mạ kẽm vẫn rất cao, gấp 1.5 lần so với năng lực sản xuất trong giai đoạn này. Cầu lớn hơn cung nên thị trường là của người bán, người mua không quan tâm đến chất lượng. Một thời kỳ ngọt ngào!
Huy hoàng không được lâu, chỉ sau một năm, đến 2005 thì ngành tôn mạ Việt Nam gặp cuộc khủng hoảng lần thứ nhất, cả sản xuất và tiêu thụ đều giảm hơn 10% so với năm 2004. Tình hình này cũng là chung cho ngành thép, nguyên nhân chính là sự tăng giá thép cán nóng (Hot Rolled Coils -HRC) liên tục từ 2004 cho đến đầu 2005 và giảm mạnh vào giữa cuối năm 2005.
Từ 2005 đến 2010 ngành tôn mạ Việt Nam có những bước phát triển tốt, sản lượng tôn mạ sản xuất trong nước đã đạt trên 1,2 triệu tấn vào năm 2010. Đây là giai đoạn bắt đầu hiện đại hóa ngành tôn mạ kẽm, các nhà  sản xuất tập trung vào đầu tư dây chuyền mạ kẽm với công nghệ hiện đại, sử dụng dao gió thế hệ mới, sử dụng lò ủ không ô-xy hóa (Non Oxidizing Process - N.O.F.) và chảo mạ kẽm ceramic gia nhiệt bằng các cuộn cảm (inductor) từ năm 2008 trở đi. Quy trình NOF vốn được phát triển vào thập niên 60, là một bước cải tiến lớn từ quy trình Sendzimir có từ thập niên 50, quy trình này gia nhiệt băng tôn dưới ngọn lửa trực tiếp đạt đến 600-650℃ trong khoang lò được khử hết Oxy, mục đích để đốt cháy lượng dầu bảo vệ và dầu cán trên bề mặt băng tôn, đồng thời tẩy lớp rỉ sét trên bề mặt băng tôn. Sau công đoạn này là công đoạn khử oxit sắt (reduction) để hoàn nguyên băng tôn trước khi xuống chảo mạ, tạo tiền đề cho lớp kẽm phản ứng với sắt để bám dính tốt lên băng tôn. Sơ lược vậy để thấy ngành mạ nước ta đã từng lạc hậu như thế nào, phải đến 40 năm sau khi ra đời quy trình này mới được đưa vào ứng dụng.
Đặc biệt giai đoạn này đánh dấu việc ngành mạ kẽm Việt Nam bắt đầu tự sản xuất được tôn nguyên liệu, tức thép cán nguội (Cold Rolled Coils - CRC), sản lượng thép cán nguội đạt 1,75 triệu tấn vào năm 2010.
Giai đoạn 2010 – 2020: Giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ của ngành tôn mạ kẽm, tái cấu trúc ngành lần hai.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, để lại nhiều hệ lụy cho các quốc gia, đặc biệt là đối với Việt Nam, khi mà trong giai đoạn 5 năm 2002-2007, VN luôn ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7.8% và để tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài. Đến khi khủng hoảng tài chính xảy ra thì kinh tế Việt Nam luôn nằm trong đà tăng trưởng thấp và lạm phát cao, đỉnh điểm của lạm phát năm 2008 là 20% và kéo dài cho đến năm 2011 thì nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn chồng chất thêm: Lạm phát vẫn ở mức cao, hơn 18%, lãi vay ngân hàng lên tới 24%, nhà nước tái cấu trúc ngành ngân hàng và giữ trần lãi suất huy động ở 14%, điều chỉnh giảm giá đồng tiền so với USD 9.3%. Thị trường bất động sản đóng băng, giá vàng tăng vọt lên 45 triệu đồng/ lượng, VNindex sụt giảm nghiêm trọng từ trên 500 điểm xuống dưới 350 điểm. Trong bối cảnh đó, ngành thép Việt Nam nói chung cũng như ngành tôn mạ nói riêng gặp rất nhiều khó khăn. Có thể nói đây là cuộc khủng hoảng lần thứ hai của ngành tôn mạ rất non trẻ. Đây là năm đầu tiên mà sản lượng tôn mạ sản xuất trong nước vượt nhu cầu tiêu thụ, sản xuất đạt 1,5 triệu tấn nhưng tiêu thụ thấp hơn số đó.
Tái cấu trúc ngành lần thứ hai
Sau cuộc khủng hoảng lần này, ngành tôn mạ kẽm đã bắt đầu hình thành một cấu trúc ngành mới, xuất hiện các công ty dẫn đầu có thị phần vượt trội, mức độ tập trung ngành rất cao, thị trường phần lớn nằm trong tay 5 doanh nghiệp đầu ngành. Năm 2016, tốp 5 công ty đầu ngành có sản lượng chiếm tới 77% tổng sản lượng toàn ngành[1]. Đặc trưng của giai đoạn này là thiên về tăng trưởng số lượng hơn là chất lượng. Các công ty đều cố gắng kéo dài chuỗi sản xuất tối đa nhằm tìm thêm giá trị gia tăng để đối đầu với cuộc cạnh tranh giá rất gay gắt. Phải nói là chiến lược dẫn đầu chi phí thấp bằng lợi thế quy mô năng lực sản xuất, chiếm lĩnh thị phần là xu hướng chủ đạo.
Giai đoạn 2012-2017 là giai đoạn bùng nổ đầu tư mở rộng quy mô sản xuất ngành. Công suất đầu tư tăng vọt lên rất nhiều so với giai đoạn đầu tư trong những năm 2005-2010. Trong xu hướng đó đã có một số các doanh nghiệp chọn xu hướng tăng trưởng quy mô vừa phải nhưng tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách lựa chọn đầu tư các công nghệ mới hàng đầu từ Nhật Bản và Châu Âu, điển hình là Tôn Đông Á hay các công ty mới tham gia ngành vào 2018 - 19 như Hòa Phát hay Pomina. Từ năm 2016, thị trường đã có xu hướng dịch chuyển mạnh về hướng chất lượng sản phẩm nên một số công ty có thị phần lớn buộc phải theo đuổi chiến lược này như Nam Kim hay Hoa Sen.
Giai đoạn tái cấu trúc ngành lần này là sự nổi lên dành thị phần của các công ty trong nước như Tôn Đông Á, Hoa Sen, Nam Kim, Phương Nam và Tân Vạn Phúc, các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài như Maruichi Sun Steel, NS Bluescope, CSVC đã lọt ra ngoài bảng xếp hạng top 5-7 công ty đầu ngành. Về mặt chất lượng sản phẩm, các công ty này cũng bị cạnh tranh rất mạnh bởi các doanh nghiệp nội đi theo hướng chất lượng, điển hình như Tôn Đông Á, một trong những công ty có những sản phẩm mạ kẽm, mạ lạnh và mạ màu có thể cạnh tranh về mặt chất lượng với sản phẩm với các công ty này. Nhiều công ty khác cũng bị loại ra trong bảng xếp hạng từ những năm giữa thập niên 2000s, chẳng hạn như Posvina, Đại Thiên Lộc, Tân Phước Khanh… Năm 2014 cũng chứng kiến sự giải thể của liên doanh Posvina, chấm dứt sứ mạng 16 năm như là một chất xúc tác cho ngành mạ Việt Nam phát triển.
Những dấu hiệu của đợt tái cấu trúc ngành lần thứ ba
Cuộc khủng hoảng ngành mạ lần thứ ba cũng xảy ra trong thập niên này, đó là hệ lụy của cuộc tranh chấp về thuế giữa Mỹ và Trung Quốc kéo theo các khoản thuế nhập khẩu các sản phẩm thép vào Mỹ tăng cao, nhiều hàng rào phòng vệ thương mại lần lượt được dựng lên, bắt đầu từ Mỹ, Trung Quốc, sau đó lan rộng ra các khu vực Châu Á, Châu Âu và toàn cầu.
Ngày 08/03/2018, Mỹ đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu thép và nhôm theo Section 232 đạo luật Thương mại mở rộng năm 1962, bằng hình thức tăng thuế nhập khẩu. Trong đó, một số sản phẩm thép và nhôm nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ phải chịu mức thuế 25% với thép và 10% với nhôm, bao gồm các sản phẩm của ngành tôn mạ kẽm: mạ lạnh, mạ kẽm và mạ màu.
Tổng công suất ngành mạ Việt Nam hiện đã đạt đến 7 triệu tấn/ năm, trong lúc đó tiêu thụ nội địa chỉ khoảng 4 triệu tấn/năm, nhập khẩu sản phẩm mạ khoảng 1.5 triệu tấn/năm, do đó hàng năm thường xuất khẩu đi 1.5 triệu tấn, vốn cũng chỉ mới khai thác khoảng 60% công suất, hiện nay thị trường xuất khẩu đã bị co hẹp đáng kể làm cho dư cung rất lớn. Từ quý 2-3 năm 2018 toàn ngành mạ đã thu hẹp sản xuất, có công ty phải cắt giảm đến 25% lực lượng lao động, đóng cửa tạm thời hoặc cắt giảm sản lượng nhiều nhà máy. Nhiều công ty bán bớt các nhà máy, cơ sở, bán cả nhà máy đang xây dựng để thu hồi vốn đầu tư tăng cường vốn lưu động để giảm áp lực tài chính. Phần lớn các nhà máy chỉ duy trì được công suất đạt 50-60% so với định mức.
Cuộc khủng hoảng lần này hầu như đã được dự đoán trước, khi mà trong thời kỳ 2012-2017 xảy ra sự bùng nổ trong đầu tư mở rộng quy mô sản xuất của ngành mạ, rất nhiều nhà phân tích đã đưa ra các cảnh báo lệch pha cung cầu rất nghiêm trọng tuy nhiên có vẻ như các nhà sản xuất tôn mạ vẫn chưa tính là sẽ có một cuộc khủng hoảng đến sớm như vậy. Cuộc khủng hoảng lần này dù chỉ mới xảy ra hơn một năm nhưng đã cho thấy sự tái cấu trúc thị trường đang diển ra mạnh mẽ nhất từ trước đến nay. Các công ty định hướng quy mô đang nhường thị phần cho các công ty định hướng theo chất lượng sản phẩm: Hoa Sen đã giảm 28% thị phần, từ mức 35% của năm trước còn lại hơn 25%, tương tự Nam Kim giảm từ 14% xuống còn 12%. Trong lúc đó mức tăng trưởng thị phần của Tôn Đông Á đạt 32%, tăng từ mức 14% lên 18.5%, tương tự Tôn Phương Nam tăng trưởng từ 7% lên 9.45%.
Hình 1: Diển tiến thay đổi thị phần ba năm gần nhất (2017, 2018, 2019 lần lượt từ trái sang phải)
Nguồn: VSA
Giai đoạn 2020 – 2030: Giai đoạn bão hòa và ổn định, tái cấu trúc ngành lần thứ ba
Giai đoạn 10 năm tới thị trường tôn mạ kẽm Việt Nam sẽ có nhiều biến chuyển mặc dù công suất ngành sẽ tương đối ổn định, mảng thị trường tấm lợp sẽ bão hòa. Thứ nhất là mức độ tập trung ngành sẽ giảm đi, tức có nhiều công ty có thị phần tương đương nhau trong top 5-7 doanh nghiệp đầu ngành. Thứ hai là các doanh nghiệp định hướng sản phẩm chất lượng cao và có quy mô sản xuất khá lớn sẽ chiếm thế tiên phong. Sẽ có nhiều phân khúc sản phẩm mới ra đời, tôn mạ kẽm không chỉ dùng cho tấm lợp mà sẽ dần bước sang cung ứng cho ngành công nghiệp điện máy gia dụng như tivi, tủ lạnh, máy giặt, lò nướng, máy điều hòa không khí... Thứ ba là các công ty bắt đầu chuyển sang cạnh tranh nhau bằng dịch vụ khách hàng và thương hiệu, nhất là trong mảng thị trường tấm lợp, lý do chất lượng sản phẩm các công ty sẽ dần tiệm cận đến nhau. Thứ tư là giai đoạn này sự phát triển của ngành ưu tiên phát triển theo chiều sâu và nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời kéo dài chuỗi sản xuất ra thêm. Thứ năm là xu hướng nghiên cứu để sản xuất sản phẩm mới, chẳng hạn tôn mạ kẽm có chứa thành phần Ma-giê. Thứ sáu là sự đe dọa của sản phẩm thay thế đến từ ngành thép không rỉ, ngành nhôm hay sản phẩm nhựa ngày càng lớn.
Bài viết có sử dụng một số thông tin từ các đàn anh đi trước, xin cám ơn anh Nguyễn Kim Quy, nguyên Phó phòng kỹ thuật Công ty Liên doanh Posvina và anh Ngô Ngọc Bách, nguyên Phó giám đốc Công ty Liên doanh Maruviena về các thông tin và tư liệu quý báu.
Đình Long

Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2018

Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung ảnh hưởng như thế nào đến ngành tôn mạ kẽm Việt Nam?


How does the US-China trade war affect the galvanizing industry in Vietnam?
Photo: Tôn Đông Á
Mỹ áp thuế 25% lên các sản phẩm thép nhập khẩu hoàn toàn không gây ảnh hưởng gì đến Trung Quốc.
Đã từ lâu ngành thép Trung Quốc đã tiến hành mở rộng các thị trường mới và giảm dần tỷ trọng thép xuất khẩu vào Mỹ, còn vì lý do là từ trước đến nay Mỹ vẫn luôn áp đặt thuế quan cao lên các sản phẩm thép nhập khẩu từ Trung Quốc. Theo dữ liệu của Bộ thương mại Hoa Kỳ (D.O.C.) thì trong năm 2017 Mỹ chỉ nhập khẩu một lượng nhỏ thép của Trung Quốc, khoảng 689.450 tấn, chiếm khoảng 2% sản lượng thép nhập khẩu.
Bảng 1: Nhập khẩu thép trong 5 năm gần đây của Mỹ, ĐVT: Tấn
Nguồn: Cục thống kê Hoa Kỳ
Theo báo cáo của tháng 6/2018 của bộ phận giám sát thương mại quốc tế thuộc DOC thì lượng thép Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc cũng là 2%.
Nguồn: Cục thống kê Hoa Kỳ
Trong quý 1/2018, Mỹ nhập khẩu 79% lượng thép từ 10 quốc gia trên, trong đó Canada (20%) và Brazil (13%) luôn xếp đầu bảng trong các năm gần đây, kế theo là South Korea và Mexico (11%). Chúng ta thấy thép nhập từ Trung Quốc chỉ chiếm có 2%.
Có vẻ như Mỹ đánh thuế thép nhập khẩu nặng một phần lớn là trực tiếp đánh lên các đồng minh truyền thống như Canada, Brazi, Mexico, South Korea và Nhật Bản vốn luôn chiếm tỷ trọng cao trong lượng thép xuất vào Mỹ.
Một phần có vẻ Mỹ muốn đánh thuế lên thép Trung Quốc một cách gián tiếp. Biểu đồ sau sẽ cho ta thấy Mỹ muốn đánh thuế thép lên South Korea hoặc Việt Nam là một cách đánh gián tiếp thép Trung Quốc, bởi vì cả hai nước đều nhập khẩu một lượng thép TQ lớn nhất.
Nguồn: Cục thống kê Hoa Kỳ
Trong Q1/2018, Trung Quốc đã xuất khẩu đi 14.7 triệu tấn thép các loại, và mười quốc gia trên là điểm đến của 53% tổng lượng thép xuất khẩu của Trung Quốc, khoảng 7.8 triệu tấn; trong đó Hàn Quốc nhập 2 triệu tấn, Việt Nam 1.3 triệu tấn, Philippines 0.9 triệu tấn, Indonesia và Thái Lan 0.7 triệu tấn mỗi quốc gia.
Cho dù là bị đánh thuế gián tiếp thì Trung Quốc cũng không hề hấn gì trong cuộc chiến giữa thương mại này. Hiện tại ngành thép TQ đã cắt giảm mạnh phần công suất lạc hậu, theo thông tin của hiệp hội thép TQ (CISA) thì xuất khẩu thép của họ đã giảm đi một phần ba vào năm 2017 do sản lượng thép trong nước đã giảm mạnh. Khoảng 600 lò luyện thép cảm ứng lạc hậu (induction furnaces) đã bị đóng cửa năm 2016, cắt giảm khoảng 7% công suất sản xuất hàng năm của cả nước.
Tương ứng, trên quy mô toàn cầu thì xuất khẩu thép của TQ đã giảm mạnh trong các năm gần đây, cụ thể đã giảm từ 112.4 triệu tấn năm 2015 xuống còn 75.4 triệu tấn trong năm 2016. Do đó, chính phủ TQ đã bắt đầu định hướng chỉ xuất khẩu các sản phẩm thép có giá trị gia tăng cao, họ sẽ giảm dần xuất khẩu thép thô, do đây rõ ràng không phải là mặt hàng chiến lược nữa khi mà mức độ cạnh tranh gia tăng trên toàn cầu.
6 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu thép vào Mỹ tăng.
Hình 1 cho thấy 79% lượng thép nhập khẩu vào Mỹ trong quý 1/2018 đến từ 10 quốc gia, lớn nhất là Canada với 20% và thấp nhất là Trung Quốc, 2%. Trong đó lượng thép nhập khẩu từ Việt Nam đứng thứ 11, báo cáo của DOC cho thấy đã giảm đi 32% so với quý trước nhưng không cho biết số lượng cụ thể. Tuy nhiên bản tin VSA cho thấy xuất khẩu thép Việt Nam vào Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2018 là 439 ngàn tấn; tăng mạnh so với cùng kỳ: 6 tháng đầu năm 2017 số liệu này chỉ là 250 ngàn tấn. Xuất khẩu thép Việt Nam vào Mỹ cả năm 2017 cũng chỉ hơn 500 ngàn tấn; có vẻ như hai thông tin trái ngược nhau, có lẽ phải đợi đến khi DOC ra báo cáo cho cả năm thì mới biết được.
Tổng lượng thép nhập khẩu của Mỹ trong quý 1 năm 2018 đã giảm 14.7%, chỉ còn 8.3 triệu tấn so với 9.7 triệu tấn cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 6 tháng đầu năm 2018 thép nhập khẩu vào Mỹ đã giảm đi 9.4%.
Tương tự, tổng lượng tôn mạ kẽm nhập khẩu của Mỹ trong quý 1 năm 2018 đã giảm 7.8%, chỉ còn 798 ngàn tấn so với 866 ngàn tấn của cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 6 tháng đầu năm 2018 tôn mạ kẽm nhập khẩu vào Mỹ đã giảm đi 10.8%. Sự sụt giảm này chưa phải là lớn do 5 năm trở lại đây Mỹ luôn nhập khẩu mỗi năm khoảng 2.8 - 3.0 triệu tấn tôn mạ kẽm. Tuy nhiên, sự sụt giảm trong 6 tháng cuối năm dự kiến sẽ lớn hơn khi mà các nhà sản xuất tôn mạ của Mỹ bắt nhịp kịp để nâng cao sản lượng.
Nội địa hóa sản phẩm thép cán nóng (HRC)
Việt Nam phụ thuộc vào thép cán nóng HRC nhập khẩu 100% kể từ 2016 trở về trước. Cụ thể năm 2016 nhập khẩu 5.5 triệu tấn thép HRC; Tháng 6/2017 Formosa Hà Tĩnh (FHS) đã đưa lò cao số 1, công suất 4 triệu tấn/năm, vào hoạt động và đã bắt đầu sản xuất được thép HRC, do đó, năm 2017 ta cũng chỉ nhập khẩu 5.5 tấn thép HRC cộng với 1.3 triệu tấn HRC sản xuất bởi FHS.
Bên cạnh đó kể từ đầu năm 2018, Mỹ đánh thuế mạnh lên các sản phẩm tôn mạ sản xuất ở Việt Nam có nguyên liệu từ HRC có nguồn gốc từ Trung Quốc (Mỹ gọi là Chinese-produced steel), nên các nhà sản xuất tôn mạ VN đã giảm dần việc nhập lượng thép HRC từ TQ. Tuy nhiên như đã nêu ở trên, các nhà sản xuất thép HRC của TQ hay các sản phẩm thép nói chung đã bắt đầu thấy áp lực cạnh tranh ngày càng tăng ở khu vực Đông Nam Á do năng lực sản xuất  thép ở đây gia tăng rất nhanh; mặt khác các quốc gia như Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Indonesia tiếp tục đánh thuế chống phá giá lên thép TQ. Do đó, họ đã và đang chuyển hướng hoạt động sang thị trường Nam Mỹ và châu Phi. Cụ thể là ArcelorMittal South Africa, là công ty có toàn bộ sản lượng thép chỉ phục vụ cho thị trường châu Phi, cho biết mức độ canh tranh đang tăng cao từ thép nhập khẩu của TQ.
7 tháng đầu năm 2018, FHS đã cung cấp khoảng hơn 1.7 triệu tấn HRC. Họ cũng đã đưa lò cao số 2, công suất 4 triệu tấn/năm vào hoạt động từ tháng 5/2018 nâng công suất sản xuất thép thô của FHS lên 7 triệu tấn/năm, nên dự kiến cả năm 2018 FHS sẽ sản xuất được khoảng 5 triệu tấn HRC, đủ đáp ứng nhu cầu trong nước.
Bên cạnh đó, liên hợp thép Hòa Phát Dung Quất ở Quảng Ngãi có khả năng sẽ bắt đầu đi vào hoạt động cuối năm 2019, cung cấp thêm một phần HRC trong năm 2019 nữa. Khi hoạt động hết công suất sẽ cung cấp ra 3.5 triệu tấn thép HRC cho thị trường nội địa, cộng với sản lượng tăng thêm từ FSH thì Việt Nam sẽ nhanh chóng chuyển từ nước nhập khẩu sang nước xuất khẩu HRC kể từ năm 2020.
Sản xuất được HRC trong nước chúng ta giảm bớt một mối rủi ro về tỷ giá, như tình trạng từ đầu năm 2018 đến nay tỷ giá điều chỉnh khá nhiều lần, làm cho giá cả HRC nhập khẩu tăng cao cũng như làm tăng gánh nặng cho các khoản vay bằng tiền USD, ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả hoạt động của các DN tôn mạ kẽm.
Thị trường tôn mạ kẽm Việt Nam nữa đầu năm 2018: bão hòa tạm thời!
Thị trường tôn mạ kẽm Việt Nam nữa đầu năm 2018 có rất nhiều dấu hiệu của một thị trường bão hòa, tuy rằng có thể là ngành công nghiệp này vẫn đang ở trong một quá trình tăng trưởng (growth stage) nếu tính trong dài hạn, nhưng rõ ràng trong ngắn hạn thì năm 2018 dường như cho thấy một thị trường bão hòa tạm thời (maturity stage) qua các dấu hiệu sau:
Hình 3: Vòng đời sản phẩm (PLC)
Nguồn: Barrett Sales Blog
+ Doanh số bán hàng (revenue) tăng mạnh nhưng lợi nhuận giảm và nhu cầu tiệm cận đến bão hòa. Trong quý 2/2018, doanh thu của NKG tăng 38.2%, tuy nhiên lợi nhuận sau thuế giảm 43.8% so với cùng kỳ; tương tự với HSG: doanh thu tăng 42.8%, tuy nhiên lợi nhuận sau thuế giảm 69.5%.
+ Số lượng các nhà sản xuất trong ngành tăng mạnh, doanh nghiệp hiện hữu gia tăng công suất, doanh nghiệp mới gia nhập ngành tăng trưởng cả về số lượng lẫn quy mô. Gia tăng đầu tư nâng công suất như NKG, HSG, TDA, TVP, TPN, TPK… cộng với công suất mới gia nhập ngành như Mỹ Việt, HPG, Vinaone làm quy mô ngành tăng nhảy vọt từ 4.63 triệu tấn/năm 2017 lên đến 6.1 triệu tấn /năm trong 2018, đó là chưa tính dự án cán-mạ 375 ngàn tấn/năm của Pomina đi vào hoạt động trong năm tới.
+ Giá cả có xu hướng giảm do sức ép cạnh tranh, 6 tháng đầu năm 2018 là một cuộc đua về giá bán, hệ quả là doanh số tăng mạnh nhưng lợi nhuận cũng giảm mạnh.
+ Sự khác biệt về thương hiệu và sự đa dạng hóa đặc tính sản phẩm được khai thác để duy trì thị phần. Chi phí marketing của các công ty trong ngành đều tăng cao.
+ Lợi nhuận (profit) ngành giảm: Mức lợi nhuận trên doanh số (ROS) đối với các doanh nghiệp sở hữu chuỗi sản xuất cán nguội – mạ kẽm – mạ màu trung bình 5-8% trước đây, hiện nay đều giảm như NKG giảm 50%, còn 2.5%; HSG còn tệ hơn khi ROS quý 2 chỉ đạt 0.8%.

Đình Long

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

Sơ lược về ngành công nghiệp thép tấm mạ kẽm toàn cầu

A BRIEF INTRODUCTION OF GLOBAL GALVANIZED STEEL SHEETS & COILS INDUSTRY


            Kể từ tháng 3 cho đến tháng 6 năm 2018 chính phủ Mỹ liên tục đưa ra các chính sách điều chỉnh thuế nhập khẩu thép và nhôm trên cơ sở mục 232 của đạo luật mở rộng thương mại năm 1962 (Section 232 of the Trade Expansion Act of 1962). Cụ thể thuế nhập khẩu đánh lên các sản phẩm thép nhập khẩu là mức 25% có hiệu lực từ 23/3/2018 áp dụng cho toàn bộ các quốc gia, ngoại trừ một số nước có hạn ngạch nhập khẩu cụ thể như Argentina, Brazil và South Korea.
Ngành thép Việt Nam bị ảnh hưởng khá nặng nề bởi quyết định áp thuế này. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp sản xuất thép mạ kẽm, do các thị trường truyền thống lớn là các nước ASEAN đang ngày càng gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của Trung Quốc, mặt khác các nước này cũng liên tục áp thuế tự vệ trong thời gian gần đây, do đó Mỹ được xem là một thị trường tiềm năng đối với các doanh nghiệp tôn mạ kẽm Việt Nam. Khó khăn ở thị trường xuất khẩu gây áp lực cạnh tranh gia tăng lên thị trường nội địa khi mà nhu cầu nội địa dự báo 4.65 triệu tấn năm nay trong khi năng lực sản xuất là 7 triệu tấn/ năm. Theo số liệu của VSA, xuất khẩu tôn mạ các loại trong 6 tháng đầu năm 2018 chỉ mới đạt 880 ngàn tấn, trong lúc sản lượng xuất khẩu dự kiến cần phải đạt trên 2 triệu tấn trong năm 2018 mới cân bằng với năng lực sản xuất trong nước. Mặt khác cần phải kiểm soát tốt lượng tôn mạ kẽm nhập khẩu dưới 1.5 triệu tấn.
Giai đoạn khó khăn này sẽ nhanh chóng qua đi khi các quốc gia lớn như Mỹ, Trung Quốc và các nước EU sớm cân bằng lại các lợi ích trong các cuộc chiến thương mại đang diễn ra. Ngành thép mạ kẽm vẫn là ngành công nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng ổn định trên thế giới, theo số liệu của Technavio thì tỷ lệ tăng trưởng kép CAGR của ngành hàng năm trung bình là 5% từ đây cho đến 2020.
Sản lượng kẽm thế giới tăng trưởng khoảng 2% mỗi năm như biểu đồ bên dưới:
Hình 1: Sản lượng kẽm toàn cầu năm 2004 -2017

Nguồn: Statista 2018

Hình 2: Tiêu thụ kẽm toàn cầu năm 2004 -2017
Nguồn: Statista 2018

Trong năm 2017 toàn thế giới sản xuất ra 13.6 triệu tấn kẽm nguyên chất, tiêu thụ khoảng 14.1 triệu tấn, trong đó ngành công nghiệp thép mạ kẽm có tỷ trọng tiêu thụ lớn nhất, chiếm 50% lượng tiêu thụ kẽm, tức khoảng 7 triệu tấn đã được sử dụng trong ngành thép mạ kẽm. Trong đó lượng Trung Quốc tiêu thụ chiếm khoảng 45%, tức khoảng 6.3 triệu tấn, Trung Quốc cũng sử dụng khoảng 57% kẽm nguyên chất cho ngành thép mạ kẽm, tức là 3.6 triệu tấn.
Ước tính quy mô ngành thép tấm mạ kẽm trên thế giới:  
Trên thế giới, người ta phân loại các sản phẩm của ngành thép mạ kẽm gồm có bốn loại chính như sau:
+Tấm và cuộn mạ kẽm (Sheets and strips/coils)
+Kết cấu thép (Structures)
+Ống và tube (Pipes and tubes)
+Dây thép mạ kẽm và ứng dụng khác (Wires and others)
Chúng ta chỉ tìm hiểu  loại tấm và cuộn mạ kẽm (Sheets and strips/coils), theo thống kê năm 2015 thì thép tấm và cuộn mạ kẽm chiếm 61% tỷ trọng.
Theo thống kê ở trên thì toàn bộ ngành công nghiệp mạ kẽm toàn cầu tiêu thụ 7 triệu tấn kẽm năm 2017, trong đó ngành mạ kẽm thép tấm và cuộn chiếm 61% tức là 61% x 7 triệu tấn = 4.27 triệu tấn. Giả sử trung bình cần 40 kg kẽm trên một tấn thép tấm mạ kẽm thì với 4.27 triệu tấn kẽm sản xuất ra khoảng 106 triệu tấn thép tấm mạ kẽm hay gọi theo Việt Nam là tôn mạ kẽm. Một thị trường với quy mô hơn 85 tỷ USD quả là khá lớn.
Dựa trên sản lượng tiêu thụ kẽm năm 2017, tác giả ước tính sản lượng tôn mạ kẽm do Trung Quốc sản xuất khoảng 50 triệu tấn/năm, chiếm khoảng 50% tổng sản lượng tôn mạ kẽm toàn cầu.
Theo thống kê thì các ngành sử dụng thép mạ kẽm nhiều nhất là:
+Xây dựng và hạ tầng (Infrastructure and construction)
+Công nghiệp (Industrial)
+Năng lượng (Power)
+Xe hơi và phương tiện giao thông (Automobile and transportation)
+Nông nghiệp (Agriculture).
Trong đó nhu cầu thép mạ kẽm cho ngành xây dựng và hạ tầng chiếm khoảng 37% trong thập kỷ này. Việt Nam đặc biệt có nhu cầu cao trong lĩnh vực này khi mà cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn cần đầu tư phát triển, mặt khác nhu cầu nhà ở luôn ở mức cao làm gia tăng nhu cầu cho các ngành thép cũng như ngành tôn mạ kẽm.
Các nhà sản xuất tôn thép mạ kẽm hàng đầu trên thế giới gồm có: ArcelorMittal, Baosteel, Gerdau, JFE Steel, NSSMC, Nucor, Posco… tôi sẽ giới thiệu chi tiết một vài nhà sản xuất lớn trong chuyên đề tiếp theo.

Đình Long

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

Impressive growth of the galvanized steel sheets industry in Vietnam

Picture 1: Galvanizing production at Ton Dong A Corporation
            Vietnam steel industry had an impressive business year in 2016, according to Vietnam Steel Association (VSA), in 2016 the total steel products that VSA member companies produced was 17.5 million tons, up 16.8% over 2015. Consumption reached 15.3 million tons, up 23.7% compared to 2015. In that context, the galvanized steel sheets industry has grown very well, production reached 3.37 million tons, consumption was 2.93 million tons, it was a growth of 25% compared with 2015.
 The galvanized steel sheets industry in Vietnam, temporarily defined in this article, includes coils with over 600 mm width, produced by the continuous galvanizing lines using non-oxidizing furnace technology (NOF). The coating material can be zinc (99.5% Zn) called GI coils or aluminum zinc alloy (55% aluminum + 43.5% zinc + 1.5% silicon) which called GL coils. The galvanized steel sheets industry described in this article also includes the color coated steel sheets & coils (PPGI / PPGL/ PCM).
The level of industry centralization
Vietnam's galvanized steel sheets industry is now considered to be highly centralized, with top 5 leading companies accounting for 77% of total industry output in 2016.
Table 1: Top five leading companies in 2016
Ranking
Companies
Sales in 2016, thousand tons
Products
1
Hoa Sen Group
1242
GI, GL, PPGI, PPGL and GI pipes
2
Nam Kim Group
540
GI, GL, PPGI, PPGL and GI pipes
3
Ton Dong A Corp.
365
GI, GL, PPGI, PPGL
4
Ton Phuong Nam
230
GI, GL, PPGI, PPGL
5
Maruichi Sun Steel
230
GI, GL, PPGI, PPGL and welded steel pipes
The sales of Maruichi Sun Steel was only estimated by author
Source: Annual Reports and VSA
The sales of Hoa Sen and Nam Kim, although were high, however, it included the production of galvanized welded steel pipes, which accounted for a significant volume due to the higher thickness compared with galvanized steel sheets. Welded galvanized steel pipes in Vietnam normally have thickness around 1.2 and 2.0 mm, while galvanized steel sheets in Vietnam have an average thickness of only around 0.3-0.6 mm
The investment overview of the sector
There are currently 11 large galvanizing companies and 5 smaller companies in Vietnam with a design capacity of 4.63 million tons per year, in which mainly about 20 continuous galvanizing lines (CGL) adopted N.O.F. technology, only about two lines used the old technology dry-flux. The 5 small companies are adopting the old technological galvanizing lines which called wet-flux or dry-flux technology, the capacity of these companies is not yet determined.
Those new entrants with high capacity are Hoa Phat, Pomina, My Viet Olympic and Vinaone are expected to make the market more exciting. Leading companies such as Ton Dong A, Nam Kim and Hoa Sen continue to make large investments to scale up, and smaller companies are also developing their investment plans. According to my statistics, by the year 2018, there is about 11 galvanizing lines will be installed, bringing the total coating capacity up to 46%, from the current 4.39 million tons to 6.4 million tons per year or more!
Table 2: Installed capacity and production in recent years
Years
2015
2016
2017E
2018F
Installed capacity, million metric tons
3.39
4.18
4.39
6.40
Production, million metric tons
3.15
3.37
3.63
3.92
Capacity growth rate
23%
5%
46%
Mining factor
93%
81%
63%
61%
Source: Author calculates based on market information and cross-checked with corporates investment announcements
The growth of capacity is almost two-year cycle, due to the time needed to manufacture and installing a continuous galvanizing line is around 16-20 months. Galvanizing manufacturers in Vietnam have a habit of observing market demand and looking at the movement of each other to invest, therefore, the capacity is normally increases with the same cycle. Table 2 shows mining factor is decreasing, it may show that the supply is higher than the demand
The capacity galvanizing steel coils will be 6.4 million tons per year for a country of 100 million people is a hard-to-imagine figure. Compared to India: With a population of 1.36 billion people and a country with a longer steel industry than Vietnam, there are many large steel companies ranking in the world, such as JSW or Tata, with total steel output in 2016 was 95.6 million tonnes, ranking third in the world, however, its total galvanized steel sheets production in 2016 was 6.4 million tonnes only!
However, the investment speed in expanding production in the galvanizing industry seems not slowdown at all, many people have asked author whom will consume that such large production. Of course, the galvanizing makers do not invest without calculation, they can see the current demand as well as forecast the potential demand through daily business. I hope can make clear this question mark in the forthcoming SWOT analysis of Vietnam's galvanized steel industry
Development strategies of Vietnam's galvanized steel industry
Development strategies are currently in widespread used:
-        Horizontal development: Invest in increasing the scale of production. Steel enterprises in Vietnam at the moment do not have M&A practice, thus, increasing financial leverage to invest or going to public to raise capital as common options
-        Vertical development: Large galvanized steel sheet manufacturers such as Ton Dong A, Nam Kim and Hoa Sen have always tended to have investments of integrating the supply chain, which are indispensable conditions for controlling raw materials and reducing production costs in order to increase profit margins. One typical example that is the movement of increasing the cold rolling capacity: Currently, the cold rolling capacity is more than 5 million tonnes produced by 15 reversing cold rolling mills, almost the mills are single-stand mills (CRM), including two double stands reversing cold rolling mills. Estimating there are three more double stands mills will be operated in 2017-2018. The cold rolling capacity will be increased 3.6 million tonnes more in 2017-2018, thus the rolling capacity of Vietnam will be 8.6 million tonnes per year in 2018. There are some signals indicated that the large GI makers are considering to invest the tandem cold mills (TCM).
-        Product diversification: One example that is the galvanized steel sheet manufacturers join increasingly more in the steel pipe market. The other movement is the improvement of product quality to penetrate the high quality products markets such as home appliances and the car industry. This strategy requires a long-term effort, requiring management, technology and capital capability
-        Of course, the steel makers of Vietnam always try to restructure the organization system and re-designing the management system towards modern structures, building and developing human resources in accordance with world standards.

Part 2: SWOT Analysis of Vietnam’s galvanized steel industry

     Phan Dinh Long

Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2017

Sự tăng trưởng ấn tượng của ngành tôn mạ kẽm Việt Nam

Hình 1: Sản xuất tôn mạ lạnh tại Công ty Cổ Phần Tôn Đông Á
            
             Năm 2016 là một năm có kết quả sản xuất kinh doanh rất ấn tượng đối ngành thép Việt Nam, theo Hiệp Hội Thép VN (VSA), trong năm 2016 tổng các loại sản phẩm thép mà các doanh nghiệp là thành viên của VSA sản xuất đạt 17,5 triệu tấn, tăng 16,8% so với  năm 2015. Lượng tiêu thụ đạt 15,3 triệu tấn, tăng 23,7% so với năm 2015. Không nằm ngoài đà tăng trưởng chung của ngành, ngành tôn mạ kẽm có sản lượng sản xuất đạt 3,37 triệu tấn, tiêu thụ đạt 2,93 triệu tấn, tăng trưởng 25% so với năm 2015.
  Ngành tôn mạ kẽm, tạm định nghĩa bao gồm các loại thép tấm dạng cuộn (coil) khổ rộng lớn hơn 600mm, được sản xuất bởi các dây chuyền mạ liên tục theo công nghệ lò ủ không ô-xy hóa (non-oxidizing furnace - NOF). Vật liệu lớp mạ có thể là kẽm (99.5% Zn) hoặc hợp kim nhôm kẽm (55% Nhôm + 43.5% Kẽm + 1.5% Silic), còn gọi là tôn lạnh. Ngành tôn mạ kẽm cũng bao gồm cả các sản phẩm tôn mạ màu dạng cuộn, tức là tôn mạ kẽm hoặc mạ lạnh được phủ màu. Ngành tôn mạ kẽm không bao gồm sản phẩm ống thép hàn mạ kẽm, tuy nhiên hiện tại rất khó tách bạch phần sản lượng các công ty sản xuất tôn cắt thành băng để cuốn lại hàn thành ống ra khỏi phần sản lượng tôn dùng nguyên tấm dành cho tấp lợp, tấm tráp vách, hoặc sản xuất trần la-phong, đồi nội thất…
Một số định nghĩa:
-        Tôn mạ kẽm: Thế giới gọi là GI (Galvanized), Zinc coated steel sheet/coil, GP- Galvanized Plain Steel Sheet/coils. Thực tế có rất nhiều biến thể của lớp kim loại mạ mà thành các loại khác như galfan (GF), galvannealed (GA)...
-        Tôn mạ lạnh: Thế giới gọi là GL (Galvalume), 55Al-Zn alloy coated, Al-Zn-Si alloy…Trong ngành xây dựng trên thế giới không quá phân biệt giữa tôn mạ lạnh và tôn mạ kẽm (gọi tắt là tôn lạnh, tôn kẽm) mà chỉ phân biệt trong ngành sản xuất ô-tô và thiết bị gia dụng là chính. Lý do tại thời điểm hiện tại, lớp mạ kẽm có độ bám dính cao hơn lớp mạ lạnh do đó chỉ có tấm mạ kẽm là có thể sử dụng cho các công đoạn dập sâu trong ngành sản xuất vỏ xe hơi
-        Tôn mạ màu, tiếng Anh là PPGI hoặc PPGL (Pre-painted Galvanized/ Pre-painted Galvalume) hoặc là PCM (Pre-coated Metals) hoặc đơn giản là Color coated steel
-        Thép ống mạ kẽm cần phân biệt hai loại sau: loại thông dụng trên thế giới là thép cán nguội/ cán nóng đem đi cắt băng sao đó cuốn thành ống hàn rồi đem đi nhúng vào bể kẽm để mạ, loại ống này thường dùng trong công nghiệp, ví dụ như ống khí nén, ống cấp thoát nước. Ống có lớp mạ kẽm dày nhưng bề mặt không đẹp, tuy nhiên ống có độ bền cao, loại này SeAH, Sunsco và Hòa Phát có sản xuất. Loại thông dụng ở Việt Nam là loại ống được sản xuất từ tôn cuộn mạ kẽm, tức là tôn kẽm cắt băng ra rồi cuốn thành ống và hàn lại mà không cần phải đem đi mạ nhúng nữa. Loại này chỉ có ứng dụng trong ngành xây dựng như làm giàn giáo, lan can, cầu thang, hàng rào, cop-pha, ống điện ngầm conduit, thang máng cáp điện…Như vậy có thể thấy các công ty trong ngành tôn mạ kẽm như HSG, NKG chỉ tập trung sản xuất loại ống mạ kẽm thứ hai.
Mức độ tập trung hóa của ngành
Ngành tôn mạ kẽm của Việt Nam hiện tại có thể xem là có mức độ tập trung hóa cao, tốp 5 công ty đầu ngành có sản lượng chiếm đến 77% tổng sản lượng toàn ngành năm 2016
Bảng 1: Năm công ty dẫn đầu ngành tôn mạ kẽm năm 2016
Xếp hạng
Công ty
Sản lượng bán hàng 2016, ngàn tấn
Sản phẩm
1
Hoa Sen Group
1242
Tôn mạ kẽm, mạ lạnh, mạ màu và ống thép hàn mạ kẽm
2
Nam Kim Group
540
Tôn mạ kẽm, mạ lạnh, mạ màu và ống thép hàn mạ kẽm
3
Ton Dong A Corp.
365
Tôn mạ kẽm, mạ lạnh và mạ màu
4
Ton Phuong Nam
230
Tôn mạ kẽm, mạ lạnh và mạ màu
5
Maruichi Sun Steel
230
Tôn mạ kẽm, mạ lạnh, mạ màu và ống thép
Sản lượng bán hàng của Maruichi Sun Steel tác giả chỉ ước tính
Nguồn: Báo cáo thường niên của các công ty và VSA
Sản lượng bán hàng của Hoa Sen và Nam Kim tuy cao nhưng trong đó đã bao gồm phần sản lượng ống thép hàn vốn chiếm một khối lượng đáng kể do có độ dày cao hơn tôn mạ. Ống thép hàn ở Việt Nam có độ dày thông dụng trong khoảng từ 1,2 – 2,0 mm, trong lúc tôn mạ ở VN có độ dày trung bình chỉ trong khoảng từ 0,3-0,6mm.
Bức tranh đầu tư phát triển ngành
Ngành tôn mạ Việt Nam hiện có khoảng 11 công ty lớn, với công suất thiết kế là 4.63 triệu tấn/ năm, tổng cộng khoảng 20 dây chuyền mạ kẽm liên tục (CGL- Continuous Galvanizing/Galvalume Line), phần lớn áp dụng công nghệ NOF, chỉ còn khoảng 2 dây chuyền áp dụng công nghệ cũ Dry-flux. Ngoài ra còn có khoảng 5 công ty nhỏ có một số dây chuyền vẫn áp dụng công nghệ Wet-flux hoặc dry-flux, công suất các công ty này hiện chưa xác định được.
Người mới gia nhập ngành với công suất lớn là Hòa Phát, Pomina, Mỹ Việt Olympic và Vinaone dự kiến sẽ làm thị trường thêm sôi động. Các công ty đầu ngành như Tôn Đông Á, Nam Kim và Hoa Sen tiếp tục đầu tư lớn để nâng quy mô, các công ty quy mô nhỏ hơn cũng đang triển khai các kế hoạch đầu tư của họ, do đó theo tác giả thống kê, đến năm 2018 dự kiến sẽ có thêm khoảng 11 dây chuyền mạ đi vào hoạt động, nâng tổng công suất sản xuất toàn ngành mạ sẽ tăng thêm 46%, từ 4.39 triệu tấn hiện nay lên đến 6.4 triệu tấn hoặc hơn!
Bảng 2: Công suất lắp đặt và sản lượng sản xuất ngành tôn mạ kẽm
Năm
2015
2016
2017E
2018F
Công suất lắp đặt, triệu tấn
3.39
4.18
4.39
6.40
Sản lượng, triệu tấn
3.15
3.37
3.63
3.92
Tăng trưởng công suất

23%
5%
46%
Tỷ lệ khai thác
93%
81%
63%
61%
Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên thông tin thị trường có kiểm tra chéo với công bố đầu tư của các công ty
Công suất mạ kẽm đạt 6.4 triệu tấn/ năm đối với một đất nước 100 triệu dân là một con số rất khó tưởng tượng cách đây một hai năm. Thử so sánh với đất nước Ấn Độ: Với dân số 1.36 tỷ người, và là một đất nước có ngành thép lâu đời hơn Việt Nam, có rất nhiều công ty thép lớn có nhà máy tích hợp integrated steel works lớn hàng đầu thế giới như JSW hay Tata. Sản lượng toàn ngành thép Ấn Độ năm 2016 là 95.6 triệu tấn, xếp hạng thứ 3 thế giới, vậy mà tổng sản lượng tôn mạ họ sản xuất ra năm 2016 cũng chỉ đạt 6.4 triệu tấn!
Tuy vậy, tình hình đầu tư mở rộng quy mô sản xuất trong ngành tôn mạ kẽm dường như vẫn chưa hề hạ nhiệt, rất nhiều người hỏi tác giả rằng sản lượng tôn mạ lớn như vậy sẽ được bán cho ai, thậm chí là người trong ngành cũng không hiểu nhu cầu đến từ đâu mà đầu tư nhà máy mạ nhiều vậy. Đương nhiên các nhà sản xuất tôn mạ không đầu tư mà không có tính toán, họ nhìn thấy hoặc cảm thấy nhu cầu hiện tại cũng như nhu cầu tiềm năng qua hoạt động kinh doanh hàng ngày. Tác giả hy vọng có thể giải đáp phần nào vấn đề này trong bài phân tích SWOT ngành tôn mạ kẽm sắp tới.
Sở dĩ tốc độ tăng công suất có chu kỳ gần như hai năm một lần là do thời gian đầu tư và lắp đặt một dây chuyền mạ kẽm trung bình từ 16-20 tháng, sau đó tùy thuộc vào tình hình chạy thử có khi mất gần 2 năm để đạt đến công suất thiết kế. Các nhà sản xuất tôn mạ của Việt Nam có tập quán quan sát nhu cầu của thị trường đồng thời nhìn nhau để đầu tư do đó thường công suất tăng có cùng chu kỳ. Bảng 2 cho thấy tỷ lệ khai thác công suất có dấu hiệu giảm xuống có thể cho thấy tốc độ cung tăng cao hơn tốc độ cầu
Chiến lược phát triển ngành
Các chiến lược phát triển đang áp dụng phổ biến hiện nay:
-        Phát triển theo chiều ngang: đầu tư gia tăng quy mô sản xuất. Các doanh nghiệp Việt Nam ngành tôn mạ chưa có tập quán M&A, do đó tăng đòn bẩy tài chính để đầu tư hoặc niêm yết sàn chứng khoán hoặc bán cổ phần cho cổ đông chiến lược để huy động vốn là các lựa chọn phổ biến
-        Phát triển theo chiều dọc: các nhà sản xuất tôn mạ lớn như Tôn Đông Á, Nam Kim và Hoa Sen luôn có xu hướng đầu tư tích hợp để khép kín chuỗi sản xuất ngành, đây là điều tất yếu để kiểm soát nguồn nguyên liệu, giảm chi phí sản xuất và gia tăng tỷ suất lợi nhuận. Đầu tư vào hệ thống phân phối để gia tăng sản lượng bán hàng
-        Đa dạng hóa sản phẩm: điển hình như các nhà sản xuất tôn mạ gia nhập ngày càng mạnh thị trường ống thép. Nâng cao chất lượng sản phẩm để thâm nhập các thị trường sản phẩm chất lượng cao như thiết bị gia dụng và ngành xe hơi. Chiến lược này đòi hỏi một nỗ lực dài hơi, đòi hỏi năng lực quản trị, công nghệ và vốn
-        Tái cơ cấu bộ máy quản trị và nâng tầm quản trị theo hướng hiện đại, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực theo các chuẩn mực trên thế giới.
       Phần 2: Phân tích Swot ngành tôn mạ kẽm
       Phan Đình Long