Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2022

Review ngắn ngành thép (Phần 2)

 Lên đỉnh năm 2021

Năm 2021 là một năm thành công rực rỡ ngoài mong đợi của ngành thép Việt Nam, chủ yếu hưởng lợi từ nhu cầu xuất khẩu trong tình hình khó khăn của các khu vực sản xuất và tiêu thụ thép lớn như Trung Quốc, Châu Âu, Mỹ… do đứt chuỗi cung ứng toàn cầu do dịch bệnh Covid 19. Xuất khẩu thép năm 2021 đạt kết quả rất tốt: 14 triệu tấn thép bán thành phẩm và thành phẩm với trị giá khoảng 12.7 tỷ đô la.

Sản lượng thép thô đạt 23 triệu tấn, tăng 16% so với năm 2020. Sản lượng thép thành phẩm các loại đạt gần 34 triệu tấn, tăng 19% y-o-y! Trong lúc tiêu thụ trong nước chỉ đạt hơn 22 triệu tấn, giảm 5,5% so với năm 2020.

Vòng xoáy đi xuống 2022

Khởi đầu là lời “tiên tri” u ám từ chủ tịch HP Trần Đình Long vào tháng 5/2022 "cổ đông cứ đợi kết quả kinh doanh quý 2, quý 3, quý 4 rồi sẽ thấy. Lúc này ngành thép đang không thuận lợi. Đợi hai tháng nữa sẽ có kết quả kinh doanh quý 2, cổ đông sẽ thấy tình hình thê thảm thế nào”[1].

Ngày 30/9/2022 Pomina thông báo ngừng sản xuất lò cao (BF) duy nhất của họ và chỉ còn sản xuất lò điện (EAF)[2].

Ngày 25/10/2022 Thép Miền Nam- VN Steel thông báo cho CB-CNV nghỉ luân phiên dài hạn từ tháng 10-12/2022[3].

Ngày 4/11/2022 Hòa Phát thông báo ngưng sản xuất hai lò cao ở KLH Gang thép Dung Quất và hai lò cao ở KLH Gang thép Hải Dương. Hiện nay Hòa Phát đang có tổng cộng 7 lò cao luyện thép gồm 4 lò ở Dung Quất và 3 lò ở Hải Dương. Như vậy, 4/7 lò cao của Hòa Phát đã dừng hoạt động vì đầu ra chậm. Dự kiến họ sẽ dừng tiếp một lò cao ở Dung Quất trong tháng 12 tới đây[4].

Ngày 11/11/2022 Formosa Hà Tĩnh thông tin sẽ cắt giảm 15% sản lượng do phải chịu tác động bởi tình trạng dư cung thép và đã cố gắng đẩy mạnh xuất khẩu, song nhu cầu nhập khẩu từ Mỹ và châu Âu không cao như dự kiến[5].

Nguyên nhân ngành thép suy giảm thì nhiều, trong đó vẫn yếu tố chính vẫn là chính sách thắt chặt tiền tệ đang lan rộng trên toàn cầu, bắt đầu từ ngân hàng trung ương Mỹ, FED để chống lạm phát. Đồng đô la tăng giá mạnh làm cho đồng tiền các nước nhanh chóng mất giá dẫn đến các nước buộc phải thực thi các chính sách tiền tệ như tăng lãi suất ngân hàng, điều chỉnh tỷ giá hối đoái dẫn đến thắt chặt hơn về nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, bên cạnh việc thiếu hụt khí đốt, xăng dầu do cuộc chiến Nga Ukraina…. Nhu cầu về hàng hóa lâu bền như xe ô tô hay đầu tư xây dựng, hạ tầng, công nghiệp trên thế giới giảm mạnh kéo theo giảm nhu cầu thép. Trong nước thì ngành xây dựng và bất động sản chậm lại đáng kể tạo áp lực thêm cho nhu cầu thép nội địa.

Dự báo sản xuất tiêu thụ thép năm 2022 sẽ giảm mạnh từ mức nền cao của năm 2021. Theo báo cáo của Hiệp Hội Thép Việt Nam (VSA), tính cho 10 tháng đầu năm, sản xuất thép thành phẩm 10 tháng đầu năm 2022 đạt 25,31 triệu tấn, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm 2021. Bán hàng thép thành phẩm đạt 23,159 triệu tấn, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó xuất khẩu đạt 5,316 triệu tấn, giảm 16,6% so với cùng kỳ năm ngoái![6]

Đây cũng là xu hướng chung của ngành thép toàn cầu. Theo báo cáo của Hiệp Hội Thép thế giới (WSA) thì sản lượng thép thô 9 tháng đầu năm của 64 quốc gia thuộc hiệp hội giảm 4.3% tương đương 63 triệu tấn[7].

Hình 1: Sản lượng thép thô 9 tháng đầu năm của 64 quốc gia thuộc WSA

Nguồn: WSA

Điều gì đang chờ ở phía trước?

Trước hết, theo IMF thì việc thắt chặt tiền tệ của Fed sẽ cần cả năm mới thấy hiệu quả, nghĩa là khoảng giữa năm 2023, nếu đảo chiều chính sách thì kinh tế lại mất cả năm nữa mới hồi phục lại mức cũ, nghĩa là giữa năm 2024.

Cuộc chiến Nga Ukraine thì sẽ không dể kết thúc một sớm một chiều khi mà Mỹ và châu Âu vẫn tiếp tục hỗ trợ Ukraine và ông Putin vẫn còn cảm thấy bị đe dọa, mùa đông sắp tới là một thử thách lớn cho cả hai bên, tuy nhiên là chủ nhà thì vẫn có chút ưu thế hơn!

Trung Quốc có một số thông báo nới lỏng chính sách cách ly Covid cho du khách xuất nhập cảnh gần đây, tuy nhiên mức độ rất hạn chế và chưa biết hiệu lực vào ngày nào. Nhiều tin đồn đoán về việc nới lỏng chính sách Zero Covid sẽ thực hiện vào mùa xuân tới hoặc quý II năm 2023. Dù sao thì cả dân chúng TQ và nền kinh tế cũng khó có thể chịu đựng được lâu hơn nữa đối với những chính sách này, rất khó để trì hoãn việc mở cửa lại nền kinh tế.

Mong muốn sớm chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ phụ thuộc nặng vào lĩnh vực đầu tư hạ tầng và bất động sản, nhà ở sang các mô hình bền vững hơn của Trung Quốc khó mà thực thi một sớm một chiều khi mà mới bắt tay thực hiện thi đã hầu như làm tê liệt thị trường BĐS và nhà ở. Gần đây chính phủ đang nỗ lực giải cứu các công ty BĐS đang ngập ngụa trong nợ nần. “Các đơn vị phát hành trái phiếu chính quyền địa phương (Local government financing vehicles - LGFV) hiện là bên mua lớn nhất của những dự án dở dang từ các công ty bất động sản vỡ nợ, bao gồm cả China Evergrande Group”[8]. Trung Quốc có kế hoạch rà soát các chính sách giải cứu toàn diện để ngăn chặn khủng hoảng tài sản[9].

Các phiên gần đây cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam giảm mạnh nhất toàn cầu[10], điều này chắc chắn sẽ đặt ra những câu hỏi và giải pháp cấp bách cho các nhà quản lý. Do VN còn là một nền kinh tế mới nổi nên tỷ trọng ngành bất động sản và tài chính trong thị trường chứng khoán là khá lớn, biểu đồ dưới đây cho thấy tỷ trọng vốn hóa ngành năm 2020, trong đó tài chính ngân hàng chiếm 29% và BĐS chiếm 24%, tổng tỷ lệ hơn 50%! Tỷ lệ này vào năm 2022 tương ứng là 35.3% và 21.8% . Để thấy mức độ tác động lớn như thế nào đến TTCK nếu cả hai ngành này bị khó khăn!

Hình 2: Cơ cấu vốn hóa toàn thị trường theo ngành 2020


Nguồn: vneconomy.vn[11]

Hình 3: Số công ty niêm yết và mức vốn hóa theo ngành 9/2022

Thị trường trong nước đã có một số tín hiệu tốt như trong phiên họp thường kỳ tháng 10 năm 2022, chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cung cấp đủ vốn cho nền kinh tế và tháo gỡ khó khăn cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp và sửa đổi Nghị định 65/2022/NĐ-CP nếu cần[12].

Ngành thép trong 15 năm trở lại đây thì có ba lần cứ một năm xấu thì có hai năm tốt, như năm 2008, 2011 và 2014. Trường hợp mới nhất là hai năm xấu liên tiếp là năm 2018 và 2019, theo sau là hai năm tốt (ngoài dự kiến do dịch bệnh). Năm 2023 các dự báo đều rất khó khăn tuy nhiên xác suất phục hồi vẫn có nếu các vấn đề đã nêu trên được xử lý tốt.

Xác suất cao nhất là ngành thép phục hồi vào năm 2024 mặc dù đây là năm bầu cử tổng thống Mỹ, sẽ có nhiều chính sách mới tuy nhiên hy vọng là không ảnh hưởng nhiều đến ngành thép như năm 2018-2019.

Bài viết mang tính chất cá nhân, không đại diện cho các cơ quan và tổ chức tác giả đang làm việc hay cộng tác.

Đình Long


Thứ Năm, 23 tháng 6, 2022

Trời vẫn xanh và mây vẫn bay

Ở Mỹ, CPI tháng 5/2022 là 8,5% trong đó CPI lõi, không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng, là 6,2% so với một năm trước[1]. Chỉ số lạm phát lõi rất cao so với các nước, chẳng hạn Đức, CPI tháng 5/2022 là 7.9% với lạm phát lõi chỉ là 3.8%[2]. Như vậy vấn đề lạm phát ở Châu Âu là giá năng lượng - lạm phát do chi phí đẩy- liên quan trực tiếp tới cuộc chiến ở Ukraine, lạm phát ở Mỹ còn đau đầu hơn, có lẽ là có đủ cả 3 loại lạm phát chi phí đẩy (cost-push inflation), lạm phát cầu kéo (demand-pull inflation) và cả lạm phát có sẵn (built-in inflation), một dạng lạm phát do kỳ vọng của mọi người, một vòng tròn luẩn quẩn vật giá tăng thì tăng lương, lương tăng lại làm vật giá tăng. Ngày 10/6, Chris Zaccarelli, Giám đốc đầu tư của Independent Advisor Alliance, cho biết lạm phát diễn ra trên diện rộng ở nhiều danh mục khác nhau, cho thấy vấn đề nằm sâu xa hơn là do sự gián đoạn tạm thời do tắc nghẽn chuỗi cung ứng hoặc do cuộc chiến ở Ukraine[3]. Có lẽ ổng muốn đề cập đến gói cứu trợ covid 19 trị giá 1900 tỷ của ông Biden vào năm ngoái chăng!? Hình ảnh đính kèm cho thấy tình tắc nghẽn tại các cảng chính của TQ và của Châu Âu đã giảm đáng kể.

Để đối phó, Fed chắc chắn duy trì đà tăng lãi suất trong 1-2 năm tới, các nhà kinh tế dự đoán lãi suất Fed sẽ ở vào 3.4% cuối năm 2022, sau đó là 3.8% trong năm 2023 và trở lại 3.4% trong năm 2024. Kế hoạch của Fed là đưa lạm phát về 2.3% vào năm 2024. Các cuộc họp sắp tới của Fed là vào tháng 7, tháng 9, tháng 11 và tháng 12 năm  nay. Như vậy, khả năng rất cao là Fed sẽ thêm 3 lần tăng LS trên 0.5% nữa để đạt mức 3.4%.

Vào ngày 19/6, tổng thư ký NATO, ông Stoltenberg nói rằng cuộc chiến ở Ukraine có thể còn kéo dài trong nhiều năm[4].

Chính sách zero Covid của TQ sẽ không có gì thay đổi ít nhất cho hết mùa thu năm nay, sau khi hoàn thành đại hội đảng 20.

Rõ ràng là thế giới phải sống chung với những điều này, trước nay đều như vậy! Các pháp vốn vô thường, nền kinh tế cũng vậy, sự ổn định chỉ là nhất thời, biến động là mãi mãi!

Đình Long



[1] https://www.cnbc.com/2022/06/10/consumer-price-index-may-2022.html

[2] https://ycharts.com/indicators/germany_core_inflation_rate

[3] https://www.forbes.com/advisor/investing/why-is-inflation-rising-right-now/

[4] https://www.reuters.com/world/europe/russias-war-ukraine-could-last-years-natos-stoltenberg-says-2022-06-18/


Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2022

Review ngắn ngành thép

 Chu kỳ thép

Đã từ lâu các nhà đầu tư, nhất là trên thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, đều xác định ngành thép là ngành có tính chu kỳ. Đầu tư cổ phiếu ngành thép, hay bất kỳ ngành có chu kỳ nào bằng cách mua vào ở giai đoạn thấp điểm và bán ra ở giai đoạn cao điểm là chiến lược tốt nhất. Chỉ có điều không dể dàng gì để xác nhận được chu kỳ ngành để tiến hành ra vào thị trường đúng nhịp. Người ta chỉ biết ngành đã vào chu kỳ suy thoái khi nó đã suy thoái!!!

Hình 1: Biểu đồ thể hiện giảm giá thép cán nóng tại Mỹ (Vui lòng nhấp chuột vào biểu đồ để xem bản lớn)


Nguồn: CNBC

Có một bài phân tích gần đây của trang Steelonthenet cho rằng ngành thép sẽ suy thoái cho đến giữa năm 2023 và phục hồi dần, đạt đỉnh điểm vào Q3,4/2025. Dự báo này dựa trên phân tích chu kỳ của giá thép cán nóng (HRC) và thép dài xây dựng (Rebar) trong vòng 25 năm trở lại đây, một chu kỳ trung bình diễn ra trong khoảng 3-4 năm.

Hình 2: Biểu đồ giá HRC và thép dài trong 25 qua

Nguồn: Steelonthenet.com

Ngành thép có lẽ đã bắt đầu chu kỳ đi xuống từ đầu năm 2022, tuy nhiên cuộc chiến Nga-Ukraine nổ ra làm thiếu hụt cục bộ nguồn cung làm cho nhu cầu có tăng lên một thời gian ngắn trong tháng 3/2022 rồi sau đó tiếp tục suy giảm. Điều này đã được thị trường chứng khoán xác nhận, cổ phiếu thép liên tục giảm giá kể từ cuối năm 2021. Phát biểu của một vị chủ tịch tập đoàn thép lớn cũng đã xác nhận xu hướng này, khi ông cho rằng quý 2,3,4 năm nay sẽ thể hiện sự khó khăn của các công ty thép.

Nhu cầu thép cũng như nhu cầu các loại vật liệu xây dựng và chế tạo khác đều không tăng trưởng như kỳ vọng một khi đại dịch Sars Cov 2 kết thúc. Lý do đầu tiên là các công ty cắt giảm đầu tư do các ngân hàng trung ương, đặc biệt là Mỹ, buộc phải giảm nới lỏng định lượng và tăng lãi suất khi mà lượng tiền bơm ra trong thời kỳ dịch bệnh đã gây ra lạm phát nặng nề ở Mỹ (8.6%, số liệu tháng 5/2022, cao nhất trong vòng 40 năm qua) và cũng như các nước trên thế giới. Lạm phát ở Châu Âu không thua gì ở Mỹ tất cả đều ở đỉnh cao hàng chục năm trở lại đây: Đức 7.6%, Pháp 5.1%, Ý 6.8%, Hà Lan 11%...(Số liệu 3/2022).

Lý do thứ hai là chi phí logistics quá cao do chuỗi cung ứng toàn cầu chưa kịp hồi phục, chẳng hạn trước dịch Covid-19, cước vận chuyển tàu biển chỉ khoảng 1.000 - 3.000 USD/container, còn hiện tại là 14.000 - 15.000 USD/container 40 feet từ Việt Nam đi Mỹ.

Chi phí vận chuyển phụ thuộc rất nhiều vào giá xăng dầu, cuộc chiến Nga-Ukraine đã làm giá đầu tăng vọt từ 90 USD lên 122-130 USD/thùng dầu Brent. Giới chuyên gia còn dự đoán giá dầu còn có thể tiếp tục lên đến mức 140, 150 USD/thùng. Cuộc chiến này như đổ thêm dầu vào ngọn lửa lạm phát khi mà các nước đang chật vật đối phó với cơn bão tăng giá hàng hóa, lương thực, thực phẩm. Họa vô đơn chí, bên cạnh đó là chính sách zero covid của Trung Quốc càng làm trầm trọng thêm việc gãy chuỗi cung ứng cũng nhu làm giảm nhu cầu hàng hóa, nhất là các vật liệu xây dựng như thép.

Nhu cầu thép giảm, đó là dấu hiệu sớm của suy thoái kinh tế. Lý do nhu cầu thép đến từ các ngành công nghiệp lớn trong đó đặc biệt là ngành xây dựng, ngành chế tạo thiết bị và ngành sản xuất xe ô tô, chẳng hạn như ở Mỹ năm 2018, ngành chế tạo ô tô chiếm 28% nhu cầu thép hàng năm, ngành xây dựng chiếm 44%. Tỷ lệ chung trên thế giới năm 2020 thì ngành xây dựng chiếm 49%, ngành chế tạo thiết bị chiếm 16% sau đó mới tới ngành ô tô chiếm 9%.

Hình 3: Thép tiêu thụ xếp theo ngành năm 2018 của Mỹ

Nguồn: AISI Profile 2019 & AcerlorMittal USA Marketing

Hình 4: Thép tiêu thụ xếp theo ngành năm 2020 toàn cầu

Nguồn: Steelonthenet.com

Hình 5: Số lượng xe bán ra giảm 3 tháng 3,4,5 ở Mỹ

Nguồn: Statista

Dù không thể dự báo được thời điểm nhu cầu thép hồi phục một cách máy móc như cách của Steelonthenet ở trên, tuy nhiên, nếu Trung Quốc sớm mở cửa nền kinh tế trở lại, cuộc chiến Nga – Ukraine kết thúc và các ngân hàng trung ương thành công trong việc đưa nền kinh tế hạ cánh an toàn thì nhu cầu thép sẽ sớm tăng trở lại. Hơn nữa, trải qua đại dịch thì xu hướng toàn cầu hóa (globalization) dường như đã chậm hẵn, xu hướng địa phương hóa (localization) quay trở lại, đầu tư sẽ nhiều ở các nước khác thay thế cho “công xưởng” Trung Quốc.

Ngành thép: Đầu tư nóng trở lại

Trái ngược với việc suy thoái của cổ phiếu thép, ngành thép đang đầu tư nóng trở lại với các dự án rất lớn: Dự án Dung Quất 2 của Hòa Phát công suất 5.6 triệu tấn/năm với tổng mức đầu tư dự kiến 85.000 tỷ đồng đã chính thức khởi động từ tháng 12/2021, bên cạnh đó có 2 dự án khủng mới công bố gần đây là dự án thép Xuân Thiện ở Nam Định công suất 8.4 triệu tấn/năm với tổng mức đầu tư 98.000 tỷ đồng[1] và dự án Vina Roma công suất 4.5 triệu tấn/năm ở Quảng Trị với tổng mức đầu tư 47.000 tỷ đồng[2].

Điểm đặc biệt trong thời kỳ này là các công ty chú trọng đầu tư vào thép dẹt mà thép cán nóng (HRC) là chủ lực. Tổng công suất 3 dự án trên là 18,5 triệu tấn, trong đó thép cán nóng là 14,2 triệu tấn năm, chiếm 76% công suất đầu tư.

Thách thức của các dự án đầu tư này chính là những ràng buộc về lượng phát thải CO2 sắp tới khả năng sẽ được áp dụng rộng rải trên toàn cầu. Ngoài dự án Xuân Thiện Nam Định có công bố áp dụng công nghệ DRI (Direct-Reduced Iron) còn các dự án khác vẫn ứng dụng công nghệ truyền thống là lò cao (Blast Furnace).

Ở Mỹ số lò cao đã giảm từ 125 cái vào thập niên 70s xuống còn 40 cái vào năm 2000. Hiện ở Mỹ, sản lượng thép cung cấp bởi lò cao chỉ còn chiếm 30%, còn lại là thép sản xuất từ thép phế bằng lò hồ quang EAF (Electric Arc Furnace) của các mini mill. Xu hướng đầu tư nhà máy mini mill sản xuất thép từ thép phế đã chiếm ưu thế đối với các thị trường Mỹ và Châu Âu đã diễn ra từ lâu, đây là công nghệ phù hợp cho mục tiêu giảm phát thải khí CO2. Có thể nói ở các nước phát triển, thách thức của chi phí đầu tư nằm phần chính ở phần tuân thủ quy định bảo vệ môi trường.

Có 3 dự án tiêu biểu gần đây ở Mỹ đều đầu tư lò luyện thép hồ quang, đó là dự án của Nucor ở West Virginia, dự án nhà máy Big River Steel ở Osceola, Arkansas và dự án của Steel Dynamics ở Sinton, Texas, tất cả đều có công suất khoảng 3 triệu tấn/ năm chủ yếu sản xuất thép cán nóng HRC, loại chất lượng cao dành cho ngành công nghiệp sản xuất ô tô. Sản phẩm cuối cùng là thép tấm mạ kẽm cường độ cao thế hệ 3 (3rd Generation Advanced High Strength Steel- 3 Gen AHSS). Sở dĩ nhấn mạnh điểm này vì gần đây có một số bài báo cho rằng chỉ công nghệ lò cao sản xuất thép từ quặng thì mới có thể sản xuất thép tấm chất lượng cao dành cho ngành công nghiệp ô tô, đây là một nhận định chưa đúng. Các nhà sản xuất thép của Mỹ gần đây đầu tư khá lớn nhằm nâng công suất HRC đáp ứng nhu cầu, dự kiến từ đây tới năm 2025 sẽ có thêm công suất 8 triệu tấn HRC, CRC và GI đi vào hoạt động, điều này có thể dẫn đến giảm nhập khẩu thép dẹt đáng kể. Năm 2021, công suất sản xuất thép của Mỹ đạt hơn 86 triệu tấn/năm, 11 tháng năm 2021 họ đã sản xuất 80 triệu tấn theo American Iron and Steel Institute.

Công suất ngành tôn mạ kẽm Việt Nam hiện tại ước tính khoảng 7.5 triệu tấn, hầu hết phần công suất tăng thêm của giai đoạn 2012-2017 đã đi vào hoạt động đã hơn 5 năm. Sau giai đoạn trầm lắng năm năm để tiêu hóa hết phần công suất này, hiện tại đã xuất hiện các dự án đầu tư mới với ước tính sẽ nâng công suất toàn ngành lên 10 triệu tấn vào năm 2025 và 15 triệu tấn vào năm 2027. Nếu không phát triển được sản phẩm chất lượng cao để khai thác thêm nhu cầu trong nước từ các ngành khác ngoài ngành xậy dựng thì các công ty thép mạ sớm phải đối mặt với cuộc cạnh tranh gay gắt ở thị trường xuất khẩu khi mà thị trường trong nước đã trở lên bé nhỏ so với năng lực sản xuất (Năm 2021 các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất khoảng hơn 6 triệu tấn tôn mạ kẽm mạ màu, tăng 34% so với năm 2020).

Bài viết mang tính chất cá nhân, không đại diện cho các cơ quan và tổ chức tác giả đang làm việc hay cộng tác.

 Đình Long



[1] https://scp.gov.vn/tin-tuc/t12868/phe-duyet-du-an-khung-san-xuat-thep-xanh-tai-nam-dinh.html

[2] https://baodautu.vn/vina-roma-de-xuat-dau-tu-khu-lien-hop-gang-thep-quang-tri-hon-47000-ty-dong-d166762.html

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2020

Ngành tôn thép mùa covid 19- sự hồi phục ấn tượng

 Năm 2020 là một năm may mắn của ngành thép nói chung và ngành tôn mạ kẽm nói chung của Việt Nam. Không ai có thể ngờ rằng có sự hồi phục nhu cầu tôn mạ rất mạnh mẽ, nhất là quý 3/2020 từ thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Ngành tôn mạ Việt Nam đã trải qua các năm khó khăn, năm 2018: Mỹ đánh thuế thép và nhôm nhập khẩu; năm 2019: chiến tranh thương mại Mỹ - Trung rồi đến 2020 là đại dịch Covid 19. Sản lượng sản xuất tôn mạ hầu như không thay đổi trong 3 năm liên tiếp. Năm 2018: 4.4 triệu tấn, năm 2019: 4.2 triệu tấn; năm 2020: 4.4 triệu tấn. Trong lúc công suất toàn ngành ước tính khoảng 8 triệu tấn, tỷ lệ khai thác chỉ đạt trên 50% một chút. Tuy nhiên, việc thừa công suất phần lớn nằm ở phân khúc máy móc công nghệ lạc hậu nên các công ty chú trọng vào đầu tư thiết bị công nghệ hiện đại và đồng bộ từ Châu Âu, Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc vẫn có dư địa cạnh tranh chiếm thị phần. Người dùng được hưởng lợi nhiều nhất, các sản phẩm cao cấp trong nước có thể sản xuất tốt mà không bị phụ thuộc hoàn toàn vào một hai doanh nghiệp FDI như vài năm về trước. Bên cạnh đó, sản phẩm tôn mạ của Việt Nam cũng có chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế, với mỗi năm xuất khẩu khoản 1.4-1.75 triệu tấn, thu về trên một tỷ USD, góp phần giảm bớt lượng nhập siêu sắt thép, mỗi năm khoảng 5 tỷ USD. Thị phần ngành tôn mạ năm 2020 không thay đổi nhiều so với năm 2019, top 5 doanh nghiệp đầu ngành gồm Tôn Đông Á, Hoa Sen, Tôn Phương Nam, Nam Kim và Tân Vạn Phúc vẫn chiếm trên 75% thị phần ngành.

Hình 1: Top năm doanh nghiệp tôn mạ Việt Nam năm 2020


Nguồn: VSA

Nhu cầu thép hồi phục vào quý 2 không chỉ ở Việt Nam mà là bối cảnh chung trên nhiều nước. Chẳng hạn tại Ấn Độ, nhu cầu thép phục hồi từ tháng 5/2020, công suất các nhà máy ở đây đều vận hành đạt mức trước dịch, dù là trong tình hình bị phong tỏa do dịch bệnh. Mặc dù các quốc gia đều cần giải quyết tình trạng thâm hụt tài chính dài hạn, hiện tại chắc chắn còn tồi tệ hơn so với trước đại dịch. Nhưng rõ ràng là hiện nay tất cả đang phải đối mặt với một vấn đề khác nghiêm trọng hơn là thâm hụt ngân sách, đó là dịch bệnh Covid 19. Các quốc gia chắc chắn sẽ tung ra các biện pháp cứu trợ và kích thích kinh tế, chẳng hạn như cắt giảm thuế hoặc tăng chi tiêu nhằm giúp đối phó với virus và chống suy thoái ngay cả khi nó làm tăng thâm hụt ngân sách. Tăng chi tiêu ngân sách bằng đầu tư công vào hạ tầng giao thông, phương tiện vận tải, cung cấp điện, nước là những lĩnh vực mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, điều này lý giải tại sao ngành thép vẫn kỳ vọng vào nhu cầu cao trong các quý tới.

               Dù nhu cầu thép có bão hòa tại từng quốc gia theo mô hình chữ U ngược (U-shape), theo tốc độ tăng trưởng GDP, tuy nhiên xét trên quy mô toàn cầu, thì nhu cầu thép luôn tăng trưởng, chưa bao giờ ngừng nghỉ. Các động lực ở đằng sau thúc đẩy nhu cầu sắt thép chính là: Nhu cầu xây dựng nhà cửa, hạ tầng phục vụ quá trình đô thị hóa trên toàn cầu, nhu cầu cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế, nhu cầu đầu tư vào tài sản (fixed assets) và ngành chế tạo như ô tô, máy móc thiết bị, năng lượng...

Hình 2: Biểu đồ thay đổi tiêu thụ sắt thép bình quân đầu người tại các quốc gia

Nguồn: WSA

Chúng ta thấy trên hình 2, nhu cầu thép của Thụy Điển đạt đã đạt đỉnh từ thế kỷ 18, Anh đạt đỉnh ở thế kỷ 19, Mỹ đạt đỉnh ở giữa thế kỷ 20, sau đó là Nga và Nhật Bản, đạt đỉnh vào cuối thế kỷ 20. Lần lượt tiêu thụ thép bình quân đầu người các quốc gia sẽ đạt đỉnh và sau đó giảm dần tới một mức độ ổn định. Ta thấy Trung Quốc đang trong quá trình lên đỉnh, tương tự tại quốc gia lớn như Ấn Độ, tiêu thụ thép hình quân đầu người hiện chỉ đạt 78Kg, trong lúc bình quân thế giới là 225Kg.

Hình 3: Biểu đồ tăng trưởng sản xuất thép toàn cầu


Nguồn: WSA

Xu hướng phát triển của sản phẩm sắt thép nói chung: Khái niệm clean steel, thị trường ngày càng đòi hỏi thép ít tạp chất hơn nhưng đặc biệt thách thức với chi phí sản xuất thấp hơn. Thị trường đòi hỏi các mác thép thông dụng sẽ phải cải thiện cơ tính nhằm thay thế dần các mác thép chuyên dụng, đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội cho các nhà sản xuất đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển. Khái niệm này cũng được hiểu cho nhu cầu sản xuất sạch đối với ngành thép, được xem là một ngành đứng đầu về khí thải CO2 và đứng thứ hai về tiêu thụ năng lượng!

Đình Long

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2019

Thăng trầm ngành tôn mạ kẽm Việt Nam (Lược sử ngành tôn mạ kẽm VN)


A brief history of Vietnam's galvanizing industry.
Giai đoạn 1990 – 2000: Buổi bình minh của ngành tôn mạ kẽm Việt Nam.
Khoảng cuối thập niên 60, ở miền nam Việt Nam đã có một số nhà máy sản xuất tôn lá mạ kẽm, với công nghệ và thiết bị của Nhật Bản. Các dây chuyền này sử dụng tôn nguyên liệu dạng tấm để mạ, sử dụng phương pháp gia nhiệt bằng lớp chì trong chảo mạ. Chiều dày lớp kẽm bám trên hai mặt băng tôn được điều chỉnh bằng cách điều chỉnh khe hở một cặp trục, gọi là trục mạ. Có thể nói đây là giai đoạn sơ khai của ngành tôn mạ kẽm Việt Nam, giai đoạn này tôn nguyên liệu (thép cán nguội) chủ yếu nhập khẩu từ Liên Xô, Nhật Bản, Hàn Quốc. Sau năm 1975 các nhà máy này được tiếp quản và chuyển về nhà máy Vinaton. Từ khoảng năm 1987 -1991 là giai đoạn nhà máy Vinaton khôi phục lại sản xuất cho hai dây chuyền mạ tấm, cải tạo một số thiết bị để có thể thay thế phụ tùng ở Việt Nam.
Giai đoạn thành hình mạnh mẽ của ngành tôn mạ kẽm Viêt Nam có lẽ được khởi đầu khi tập đoàn thép Posco của Hàn Quốc ký kết hợp tác với nhà máy Vinaton để thành lập nên công ty liên doanh Posvina vào tháng 4/1992. Mặc dù mang danh nghĩa liên kết với một tập đoàn thép tầm cỡ thế giới lúc bấy giờ, tuy nhiên thực chất Posvina không được hỗ trợ kỹ thuật công nghệ gì về ngành mạ kẽm, thay vào đó đội ngũ kỹ thuật của nhà máy tự nghiên cứu và cải tạo dây chuyền từ mạ tấm (mạ lá) sang kiểu mạ cuộn, một số thiết bị được nhà máy tự thiết kế và đặt gia công chế tạo trong nước như máy xả cuộn và máy cuốn cuộn. Khi Posvina thực hiện xong việc cải tạo dây chuyền mạ lá thành mạ cuộn thì trong ngành cũng có một số nhà máy bắt đầu chế tạo lắp đặt dây chuyền mạ kẽm kiểu này. Mãi sau này đến năm 2002, Posvina mới nâng cấp dây chuyền mạ kẽm lên kiểu có hai tháp bù. Năm 2002 Posco E&C, một công ty con của Posco cung cấp dây chuyền mạ màu đầu tiên cho Posvina. Dây chuyền có tốc độ trung tâm lớn nhất 30 m/phút, công suất 22,000 tấn/năm. Lúc đó công suất nhà máy tôn mạ kẽm và mạ màu này là 40,000 tấn/năm. Posvina được xem như cái nôi đầu tiên trong việc cung cấp nhân lực kỹ thuật và công nghệ cho ngành tôn mạ kẽm của Việt Nam. Giai đoạn này sử dụng công nghệ mạ trục và trợ dung ướt (wet-flux) hoặc trợ dung khô (dry-flux), vẫn sử dụng phương pháp mạ từ tấm ra tấm (sheet to sheet) rất lạc hậu, công suất thấp, môi trường sản xuất đặc biệt độc hại do hơi lưu huỳnh chống ôxy hóa tại chảo mạ. Công nghệ mạ trục phổ biến trên thế giới trong khoảng từ những năm 1930-1970, vốn có giới hạn tốc độ lớn nhất chỉ 60 m/phút, tuy nhiên do vốn đầu tư cho dự án rất hạn chế thời bấy giờ nên Việt Nam vẫn phải sử dụng những công nghệ rất cũ, lạc hậu gần 30 năm so với thế giới. Mãi cho đến những năm 1998-99 công nghệ mạ ở Việt Nam cũng chưa có thay đổi lớn, chỉ trừ Posvina nâng cấp từ mạ tấm lên mạ cuộn (coil to coil) và lắp dao gió cho dây chuyền mạ, đánh dấu lần đầu công nghệ mạ dao gió được áp dụng tại nước ta. Công suất mạ toàn ngành rất thấp, chưa tới 100,000 tấn/năm.
Mốc hình thành một số nhà sản xuất tôn mạ kẽm chính như sau:
Năm 1996: Cty Liên doanh Maruviena đưa vào vận hành dây chuyền mạ kẽm đầu tiên.
Năm 1997: Cty Liên doanh Tôn Phương Nam bắt đầu vận hành dây chuyền mạ kẽm đầu tiên.
Năm 1998: Tôn Đông Á thành lập, năm 1999 đưa vào vận hành dây chuyền mạ kẽm đầu tiên.
Năm 1999: Tôn Phước Khanh đầu tư nhà máy mạ.
Năm 2001: Tôn Hoa Sen ra đời
Năm 2002: Tôn Nam Kim ra đời
Năm 2003: Tân Vạn Phúc xây dựng nhà máy mạ ở Long An
Năm 2004: Lilama đầu tư một nhà máy tôn mạ kẽm mạ màu ở Vĩnh Phúc, sau chuyển thành VN Steel Thăng Long.
Năm 2005: Bluescope Steel Vietnam đưa vào hoạt động nhà máy sản xuất thép mạ hợp kim nhôm - kẽm và mạ màu đặt tại khu công nghiệp Phú Mỹ 1, tỉnh BR-VT, sau đổi tên thành NS Bluescope.
Năm 2005: Sunsco (Maruichi Sun Steel) đưa vào hoạt động dây chuyền mạ kẽm đầu tiên tại Bình Dương, mặc dù đã được thành lập khá lâu trước đó, vào năm 1996 với tên Vina Tafong Iron & Steel.
Giai đoạn 2000 – 2010: Hình thành ngành và giai đoạn cấu trúc ngành lần thứ nhất.
Năng lực sản xuất của ngành mạ kẽm có một bước tiến lớn vào năm 2004, từ con số 100 ngàn tấn/ năm nhảy vọt lên hơn 500 ngàn tấn/năm. Đây là thời kỳ bùng nổ lần thứ nhất của ngành tôn mạ kẽm Việt Nam, thay đổi lớn nhất trong thời kỳ này là bắt đầu phổ biến ứng dụng công nghệ dao gió trong công đoạn mạ kẽm từ năm 2004. Công nghệ sử dụng không khí nén hoặc khí ni-tơ với áp suất thấp và lưu lượng cao để điều khiển lớp mạ chất lỏng vốn được sử dụng từ rất nhiều năm về trước trong ngành công nghiệp sản xuất giấy. Mãi cho đến những năm đầu thập niên 70 thì người ta mới sử dụng công nghệ này vào ngành mạ kẽm, đi đầu là nhà sản xuất thép mạ kẽm của Úc, John Lysaght, lúc đó họ có đã có 5 dây chuyền mạ kẽm liên tục sử dụng dao gió. Ở Việt Nam thì công nghệ mạ dao gió đầu tiên được triển khai tại nhà máy Posvina với thiết bị dao gió được cung cấp bởi GTE, một nhà cung của Hàn Quốc, lắp đặt và đưa vào hoạt động trong năm 1998.
Dù sản xuất trong nước có sản lượng nhảy vọt tới năm lần so với năm 2000 thì nhu cầu tôn mạ kẽm vẫn rất cao, gấp 1.5 lần so với năng lực sản xuất trong giai đoạn này. Cầu lớn hơn cung nên thị trường là của người bán, người mua không quan tâm đến chất lượng. Một thời kỳ ngọt ngào!
Huy hoàng không được lâu, chỉ sau một năm, đến 2005 thì ngành tôn mạ Việt Nam gặp cuộc khủng hoảng lần thứ nhất, cả sản xuất và tiêu thụ đều giảm hơn 10% so với năm 2004. Tình hình này cũng là chung cho ngành thép, nguyên nhân chính là sự tăng giá thép cán nóng (Hot Rolled Coils -HRC) liên tục từ 2004 cho đến đầu 2005 và giảm mạnh vào giữa cuối năm 2005.
Từ 2005 đến 2010 ngành tôn mạ Việt Nam có những bước phát triển tốt, sản lượng tôn mạ sản xuất trong nước đã đạt trên 1,2 triệu tấn vào năm 2010. Đây là giai đoạn bắt đầu hiện đại hóa ngành tôn mạ kẽm, các nhà  sản xuất tập trung vào đầu tư dây chuyền mạ kẽm với công nghệ hiện đại, sử dụng dao gió thế hệ mới, sử dụng lò ủ không ô-xy hóa (Non Oxidizing Process - N.O.F.) và chảo mạ kẽm ceramic gia nhiệt bằng các cuộn cảm (inductor) từ năm 2008 trở đi. Quy trình NOF vốn được phát triển vào thập niên 60, là một bước cải tiến lớn từ quy trình Sendzimir có từ thập niên 50, quy trình này gia nhiệt băng tôn dưới ngọn lửa trực tiếp đạt đến 600-650℃ trong khoang lò được khử hết Oxy, mục đích để đốt cháy lượng dầu bảo vệ và dầu cán trên bề mặt băng tôn, đồng thời tẩy lớp rỉ sét trên bề mặt băng tôn. Sau công đoạn này là công đoạn khử oxit sắt (reduction) để hoàn nguyên băng tôn trước khi xuống chảo mạ, tạo tiền đề cho lớp kẽm phản ứng với sắt để bám dính tốt lên băng tôn. Sơ lược vậy để thấy ngành mạ nước ta đã từng lạc hậu như thế nào, phải đến 40 năm sau khi ra đời quy trình này mới được đưa vào ứng dụng.
Đặc biệt giai đoạn này đánh dấu việc ngành mạ kẽm Việt Nam bắt đầu tự sản xuất được tôn nguyên liệu, tức thép cán nguội (Cold Rolled Coils - CRC), sản lượng thép cán nguội đạt 1,75 triệu tấn vào năm 2010.
Giai đoạn 2010 – 2020: Giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ của ngành tôn mạ kẽm, tái cấu trúc ngành lần hai.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, để lại nhiều hệ lụy cho các quốc gia, đặc biệt là đối với Việt Nam, khi mà trong giai đoạn 5 năm 2002-2007, VN luôn ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7.8% và để tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài. Đến khi khủng hoảng tài chính xảy ra thì kinh tế Việt Nam luôn nằm trong đà tăng trưởng thấp và lạm phát cao, đỉnh điểm của lạm phát năm 2008 là 20% và kéo dài cho đến năm 2011 thì nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn chồng chất thêm: Lạm phát vẫn ở mức cao, hơn 18%, lãi vay ngân hàng lên tới 24%, nhà nước tái cấu trúc ngành ngân hàng và giữ trần lãi suất huy động ở 14%, điều chỉnh giảm giá đồng tiền so với USD 9.3%. Thị trường bất động sản đóng băng, giá vàng tăng vọt lên 45 triệu đồng/ lượng, VNindex sụt giảm nghiêm trọng từ trên 500 điểm xuống dưới 350 điểm. Trong bối cảnh đó, ngành thép Việt Nam nói chung cũng như ngành tôn mạ nói riêng gặp rất nhiều khó khăn. Có thể nói đây là cuộc khủng hoảng lần thứ hai của ngành tôn mạ rất non trẻ. Đây là năm đầu tiên mà sản lượng tôn mạ sản xuất trong nước vượt nhu cầu tiêu thụ, sản xuất đạt 1,5 triệu tấn nhưng tiêu thụ thấp hơn số đó.
Tái cấu trúc ngành lần thứ hai
Sau cuộc khủng hoảng lần này, ngành tôn mạ kẽm đã bắt đầu hình thành một cấu trúc ngành mới, xuất hiện các công ty dẫn đầu có thị phần vượt trội, mức độ tập trung ngành rất cao, thị trường phần lớn nằm trong tay 5 doanh nghiệp đầu ngành. Năm 2016, tốp 5 công ty đầu ngành có sản lượng chiếm tới 77% tổng sản lượng toàn ngành[1]. Đặc trưng của giai đoạn này là thiên về tăng trưởng số lượng hơn là chất lượng. Các công ty đều cố gắng kéo dài chuỗi sản xuất tối đa nhằm tìm thêm giá trị gia tăng để đối đầu với cuộc cạnh tranh giá rất gay gắt. Phải nói là chiến lược dẫn đầu chi phí thấp bằng lợi thế quy mô năng lực sản xuất, chiếm lĩnh thị phần là xu hướng chủ đạo.
Giai đoạn 2012-2017 là giai đoạn bùng nổ đầu tư mở rộng quy mô sản xuất ngành. Công suất đầu tư tăng vọt lên rất nhiều so với giai đoạn đầu tư trong những năm 2005-2010. Trong xu hướng đó đã có một số các doanh nghiệp chọn xu hướng tăng trưởng quy mô vừa phải nhưng tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách lựa chọn đầu tư các công nghệ mới hàng đầu từ Nhật Bản và Châu Âu, điển hình là Tôn Đông Á hay các công ty mới tham gia ngành vào 2018 - 19 như Hòa Phát hay Pomina. Từ năm 2016, thị trường đã có xu hướng dịch chuyển mạnh về hướng chất lượng sản phẩm nên một số công ty có thị phần lớn buộc phải theo đuổi chiến lược này như Nam Kim hay Hoa Sen.
Giai đoạn tái cấu trúc ngành lần này là sự nổi lên dành thị phần của các công ty trong nước như Tôn Đông Á, Hoa Sen, Nam Kim, Phương Nam và Tân Vạn Phúc, các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài như Maruichi Sun Steel, NS Bluescope, CSVC đã lọt ra ngoài bảng xếp hạng top 5-7 công ty đầu ngành. Về mặt chất lượng sản phẩm, các công ty này cũng bị cạnh tranh rất mạnh bởi các doanh nghiệp nội đi theo hướng chất lượng, điển hình như Tôn Đông Á, một trong những công ty có những sản phẩm mạ kẽm, mạ lạnh và mạ màu có thể cạnh tranh về mặt chất lượng với sản phẩm với các công ty này. Nhiều công ty khác cũng bị loại ra trong bảng xếp hạng từ những năm giữa thập niên 2000s, chẳng hạn như Posvina, Đại Thiên Lộc, Tân Phước Khanh… Năm 2014 cũng chứng kiến sự giải thể của liên doanh Posvina, chấm dứt sứ mạng 16 năm như là một chất xúc tác cho ngành mạ Việt Nam phát triển.
Những dấu hiệu của đợt tái cấu trúc ngành lần thứ ba
Cuộc khủng hoảng ngành mạ lần thứ ba cũng xảy ra trong thập niên này, đó là hệ lụy của cuộc tranh chấp về thuế giữa Mỹ và Trung Quốc kéo theo các khoản thuế nhập khẩu các sản phẩm thép vào Mỹ tăng cao, nhiều hàng rào phòng vệ thương mại lần lượt được dựng lên, bắt đầu từ Mỹ, Trung Quốc, sau đó lan rộng ra các khu vực Châu Á, Châu Âu và toàn cầu.
Ngày 08/03/2018, Mỹ đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu thép và nhôm theo Section 232 đạo luật Thương mại mở rộng năm 1962, bằng hình thức tăng thuế nhập khẩu. Trong đó, một số sản phẩm thép và nhôm nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ phải chịu mức thuế 25% với thép và 10% với nhôm, bao gồm các sản phẩm của ngành tôn mạ kẽm: mạ lạnh, mạ kẽm và mạ màu.
Tổng công suất ngành mạ Việt Nam hiện đã đạt đến 7 triệu tấn/ năm, trong lúc đó tiêu thụ nội địa chỉ khoảng 4 triệu tấn/năm, nhập khẩu sản phẩm mạ khoảng 1.5 triệu tấn/năm, do đó hàng năm thường xuất khẩu đi 1.5 triệu tấn, vốn cũng chỉ mới khai thác khoảng 60% công suất, hiện nay thị trường xuất khẩu đã bị co hẹp đáng kể làm cho dư cung rất lớn. Từ quý 2-3 năm 2018 toàn ngành mạ đã thu hẹp sản xuất, có công ty phải cắt giảm đến 25% lực lượng lao động, đóng cửa tạm thời hoặc cắt giảm sản lượng nhiều nhà máy. Nhiều công ty bán bớt các nhà máy, cơ sở, bán cả nhà máy đang xây dựng để thu hồi vốn đầu tư tăng cường vốn lưu động để giảm áp lực tài chính. Phần lớn các nhà máy chỉ duy trì được công suất đạt 50-60% so với định mức.
Cuộc khủng hoảng lần này hầu như đã được dự đoán trước, khi mà trong thời kỳ 2012-2017 xảy ra sự bùng nổ trong đầu tư mở rộng quy mô sản xuất của ngành mạ, rất nhiều nhà phân tích đã đưa ra các cảnh báo lệch pha cung cầu rất nghiêm trọng tuy nhiên có vẻ như các nhà sản xuất tôn mạ vẫn chưa tính là sẽ có một cuộc khủng hoảng đến sớm như vậy. Cuộc khủng hoảng lần này dù chỉ mới xảy ra hơn một năm nhưng đã cho thấy sự tái cấu trúc thị trường đang diển ra mạnh mẽ nhất từ trước đến nay. Các công ty định hướng quy mô đang nhường thị phần cho các công ty định hướng theo chất lượng sản phẩm: Hoa Sen đã giảm 28% thị phần, từ mức 35% của năm trước còn lại hơn 25%, tương tự Nam Kim giảm từ 14% xuống còn 12%. Trong lúc đó mức tăng trưởng thị phần của Tôn Đông Á đạt 32%, tăng từ mức 14% lên 18.5%, tương tự Tôn Phương Nam tăng trưởng từ 7% lên 9.45%.
Hình 1: Diển tiến thay đổi thị phần ba năm gần nhất (2017, 2018, 2019 lần lượt từ trái sang phải)
Nguồn: VSA
Giai đoạn 2020 – 2030: Giai đoạn bão hòa và ổn định, tái cấu trúc ngành lần thứ ba
Giai đoạn 10 năm tới thị trường tôn mạ kẽm Việt Nam sẽ có nhiều biến chuyển mặc dù công suất ngành sẽ tương đối ổn định, mảng thị trường tấm lợp sẽ bão hòa. Thứ nhất là mức độ tập trung ngành sẽ giảm đi, tức có nhiều công ty có thị phần tương đương nhau trong top 5-7 doanh nghiệp đầu ngành. Thứ hai là các doanh nghiệp định hướng sản phẩm chất lượng cao và có quy mô sản xuất khá lớn sẽ chiếm thế tiên phong. Sẽ có nhiều phân khúc sản phẩm mới ra đời, tôn mạ kẽm không chỉ dùng cho tấm lợp mà sẽ dần bước sang cung ứng cho ngành công nghiệp điện máy gia dụng như tivi, tủ lạnh, máy giặt, lò nướng, máy điều hòa không khí... Thứ ba là các công ty bắt đầu chuyển sang cạnh tranh nhau bằng dịch vụ khách hàng và thương hiệu, nhất là trong mảng thị trường tấm lợp, lý do chất lượng sản phẩm các công ty sẽ dần tiệm cận đến nhau. Thứ tư là giai đoạn này sự phát triển của ngành ưu tiên phát triển theo chiều sâu và nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời kéo dài chuỗi sản xuất ra thêm. Thứ năm là xu hướng nghiên cứu để sản xuất sản phẩm mới, chẳng hạn tôn mạ kẽm có chứa thành phần Ma-giê. Thứ sáu là sự đe dọa của sản phẩm thay thế đến từ ngành thép không rỉ, ngành nhôm hay sản phẩm nhựa ngày càng lớn.
Bài viết có sử dụng một số thông tin từ các đàn anh đi trước, xin cám ơn anh Nguyễn Kim Quy, nguyên Phó phòng kỹ thuật Công ty Liên doanh Posvina và anh Ngô Ngọc Bách, nguyên Phó giám đốc Công ty Liên doanh Maruviena về các thông tin và tư liệu quý báu.
Đình Long