Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2020

Ngành tôn thép mùa covid 19- sự hồi phục ấn tượng

 Năm 2020 là một năm may mắn của ngành thép nói chung và ngành tôn mạ kẽm nói chung của Việt Nam. Không ai có thể ngờ rằng có sự hồi phục nhu cầu tôn mạ rất mạnh mẽ, nhất là quý 3/2020 từ thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Ngành tôn mạ Việt Nam đã trải qua các năm khó khăn, năm 2018: Mỹ đánh thuế thép và nhôm nhập khẩu; năm 2019: chiến tranh thương mại Mỹ - Trung rồi đến 2020 là đại dịch Covid 19. Sản lượng sản xuất tôn mạ hầu như không thay đổi trong 3 năm liên tiếp. Năm 2018: 4.4 triệu tấn, năm 2019: 4.2 triệu tấn; năm 2020: 4.4 triệu tấn. Trong lúc công suất toàn ngành ước tính khoảng 8 triệu tấn, tỷ lệ khai thác chỉ đạt trên 50% một chút. Tuy nhiên, việc thừa công suất phần lớn nằm ở phân khúc máy móc công nghệ lạc hậu nên các công ty chú trọng vào đầu tư thiết bị công nghệ hiện đại và đồng bộ từ Châu Âu, Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc vẫn có dư địa cạnh tranh chiếm thị phần. Người dùng được hưởng lợi nhiều nhất, các sản phẩm cao cấp trong nước có thể sản xuất tốt mà không bị phụ thuộc hoàn toàn vào một hai doanh nghiệp FDI như vài năm về trước. Bên cạnh đó, sản phẩm tôn mạ của Việt Nam cũng có chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế, với mỗi năm xuất khẩu khoản 1.4-1.75 triệu tấn, thu về trên một tỷ USD, góp phần giảm bớt lượng nhập siêu sắt thép, mỗi năm khoảng 5 tỷ USD. Thị phần ngành tôn mạ năm 2020 không thay đổi nhiều so với năm 2019, top 5 doanh nghiệp đầu ngành gồm Tôn Đông Á, Hoa Sen, Tôn Phương Nam, Nam Kim và Tân Vạn Phúc vẫn chiếm trên 75% thị phần ngành.

Hình 1: Top năm doanh nghiệp tôn mạ Việt Nam năm 2020


Nguồn: VSA

Nhu cầu thép hồi phục vào quý 2 không chỉ ở Việt Nam mà là bối cảnh chung trên nhiều nước. Chẳng hạn tại Ấn Độ, nhu cầu thép phục hồi từ tháng 5/2020, công suất các nhà máy ở đây đều vận hành đạt mức trước dịch, dù là trong tình hình bị phong tỏa do dịch bệnh. Mặc dù các quốc gia đều cần giải quyết tình trạng thâm hụt tài chính dài hạn, hiện tại chắc chắn còn tồi tệ hơn so với trước đại dịch. Nhưng rõ ràng là hiện nay tất cả đang phải đối mặt với một vấn đề khác nghiêm trọng hơn là thâm hụt ngân sách, đó là dịch bệnh Covid 19. Các quốc gia chắc chắn sẽ tung ra các biện pháp cứu trợ và kích thích kinh tế, chẳng hạn như cắt giảm thuế hoặc tăng chi tiêu nhằm giúp đối phó với virus và chống suy thoái ngay cả khi nó làm tăng thâm hụt ngân sách. Tăng chi tiêu ngân sách bằng đầu tư công vào hạ tầng giao thông, phương tiện vận tải, cung cấp điện, nước là những lĩnh vực mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, điều này lý giải tại sao ngành thép vẫn kỳ vọng vào nhu cầu cao trong các quý tới.

               Dù nhu cầu thép có bão hòa tại từng quốc gia theo mô hình chữ U ngược (U-shape), theo tốc độ tăng trưởng GDP, tuy nhiên xét trên quy mô toàn cầu, thì nhu cầu thép luôn tăng trưởng, chưa bao giờ ngừng nghỉ. Các động lực ở đằng sau thúc đẩy nhu cầu sắt thép chính là: Nhu cầu xây dựng nhà cửa, hạ tầng phục vụ quá trình đô thị hóa trên toàn cầu, nhu cầu cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế, nhu cầu đầu tư vào tài sản (fixed assets) và ngành chế tạo như ô tô, máy móc thiết bị, năng lượng...

Hình 2: Biểu đồ thay đổi tiêu thụ sắt thép bình quân đầu người tại các quốc gia

Nguồn: WSA

Chúng ta thấy trên hình 2, nhu cầu thép của Thụy Điển đạt đã đạt đỉnh từ thế kỷ 18, Anh đạt đỉnh ở thế kỷ 19, Mỹ đạt đỉnh ở giữa thế kỷ 20, sau đó là Nga và Nhật Bản, đạt đỉnh vào cuối thế kỷ 20. Lần lượt tiêu thụ thép bình quân đầu người các quốc gia sẽ đạt đỉnh và sau đó giảm dần tới một mức độ ổn định. Ta thấy Trung Quốc đang trong quá trình lên đỉnh, tương tự tại quốc gia lớn như Ấn Độ, tiêu thụ thép hình quân đầu người hiện chỉ đạt 78Kg, trong lúc bình quân thế giới là 225Kg.

Hình 3: Biểu đồ tăng trưởng sản xuất thép toàn cầu


Nguồn: WSA

Xu hướng phát triển của sản phẩm sắt thép nói chung: Khái niệm clean steel, thị trường ngày càng đòi hỏi thép ít tạp chất hơn nhưng đặc biệt thách thức với chi phí sản xuất thấp hơn. Thị trường đòi hỏi các mác thép thông dụng sẽ phải cải thiện cơ tính nhằm thay thế dần các mác thép chuyên dụng, đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội cho các nhà sản xuất đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển. Khái niệm này cũng được hiểu cho nhu cầu sản xuất sạch đối với ngành thép, được xem là một ngành đứng đầu về khí thải CO2 và đứng thứ hai về tiêu thụ năng lượng!

Đình Long

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2019

Thăng trầm ngành tôn mạ kẽm Việt Nam (Lược sử ngành tôn mạ kẽm VN)


A brief history of Vietnam's galvanizing industry.
Giai đoạn 1990 – 2000: Buổi bình minh của ngành tôn mạ kẽm Việt Nam.
Khoảng cuối thập niên 60, ở miền nam Việt Nam đã có một số nhà máy sản xuất tôn lá mạ kẽm, với công nghệ và thiết bị của Nhật Bản. Các dây chuyền này sử dụng tôn nguyên liệu dạng tấm để mạ, sử dụng phương pháp gia nhiệt bằng lớp chì trong chảo mạ. Chiều dày lớp kẽm bám trên hai mặt băng tôn được điều chỉnh bằng cách điều chỉnh khe hở một cặp trục, gọi là trục mạ. Có thể nói đây là giai đoạn sơ khai của ngành tôn mạ kẽm Việt Nam, giai đoạn này tôn nguyên liệu (thép cán nguội) chủ yếu nhập khẩu từ Liên Xô, Nhật Bản, Hàn Quốc. Sau năm 1975 các nhà máy này được tiếp quản và chuyển về nhà máy Vinaton. Từ khoảng năm 1987 -1991 là giai đoạn nhà máy Vinaton khôi phục lại sản xuất cho hai dây chuyền mạ tấm, cải tạo một số thiết bị để có thể thay thế phụ tùng ở Việt Nam.
Giai đoạn thành hình mạnh mẽ của ngành tôn mạ kẽm Viêt Nam có lẽ được khởi đầu khi tập đoàn thép Posco của Hàn Quốc ký kết hợp tác với nhà máy Vinaton để thành lập nên công ty liên doanh Posvina vào tháng 4/1992. Mặc dù mang danh nghĩa liên kết với một tập đoàn thép tầm cỡ thế giới lúc bấy giờ, tuy nhiên thực chất Posvina không được hỗ trợ kỹ thuật công nghệ gì về ngành mạ kẽm, thay vào đó đội ngũ kỹ thuật của nhà máy tự nghiên cứu và cải tạo dây chuyền từ mạ tấm (mạ lá) sang kiểu mạ cuộn, một số thiết bị được nhà máy tự thiết kế và đặt gia công chế tạo trong nước như máy xả cuộn và máy cuốn cuộn. Khi Posvina thực hiện xong việc cải tạo dây chuyền mạ lá thành mạ cuộn thì trong ngành cũng có một số nhà máy bắt đầu chế tạo lắp đặt dây chuyền mạ kẽm kiểu này. Mãi sau này đến năm 2002, Posvina mới nâng cấp dây chuyền mạ kẽm lên kiểu có hai tháp bù. Năm 2002 Posco E&C, một công ty con của Posco cung cấp dây chuyền mạ màu đầu tiên cho Posvina. Dây chuyền có tốc độ trung tâm lớn nhất 30 m/phút, công suất 22,000 tấn/năm. Lúc đó công suất nhà máy tôn mạ kẽm và mạ màu này là 40,000 tấn/năm. Posvina được xem như cái nôi đầu tiên trong việc cung cấp nhân lực kỹ thuật và công nghệ cho ngành tôn mạ kẽm của Việt Nam. Giai đoạn này sử dụng công nghệ mạ trục và trợ dung ướt (wet-flux) hoặc trợ dung khô (dry-flux), vẫn sử dụng phương pháp mạ từ tấm ra tấm (sheet to sheet) rất lạc hậu, công suất thấp, môi trường sản xuất đặc biệt độc hại do hơi lưu huỳnh chống ôxy hóa tại chảo mạ. Công nghệ mạ trục phổ biến trên thế giới trong khoảng từ những năm 1930-1970, vốn có giới hạn tốc độ lớn nhất chỉ 60 m/phút, tuy nhiên do vốn đầu tư cho dự án rất hạn chế thời bấy giờ nên Việt Nam vẫn phải sử dụng những công nghệ rất cũ, lạc hậu gần 30 năm so với thế giới. Mãi cho đến những năm 1998-99 công nghệ mạ ở Việt Nam cũng chưa có thay đổi lớn, chỉ trừ Posvina nâng cấp từ mạ tấm lên mạ cuộn (coil to coil) và lắp dao gió cho dây chuyền mạ, đánh dấu lần đầu công nghệ mạ dao gió được áp dụng tại nước ta. Công suất mạ toàn ngành rất thấp, chưa tới 100,000 tấn/năm.
Mốc hình thành một số nhà sản xuất tôn mạ kẽm chính như sau:
Năm 1996: Cty Liên doanh Maruviena đưa vào vận hành dây chuyền mạ kẽm đầu tiên.
Năm 1997: Cty Liên doanh Tôn Phương Nam bắt đầu vận hành dây chuyền mạ kẽm đầu tiên.
Năm 1998: Tôn Đông Á thành lập, năm 1999 đưa vào vận hành dây chuyền mạ kẽm đầu tiên.
Năm 1999: Tôn Phước Khanh đầu tư nhà máy mạ.
Năm 2001: Tôn Hoa Sen ra đời
Năm 2002: Tôn Nam Kim ra đời
Năm 2003: Tân Vạn Phúc xây dựng nhà máy mạ ở Long An
Năm 2004: Lilama đầu tư một nhà máy tôn mạ kẽm mạ màu ở Vĩnh Phúc, sau chuyển thành VN Steel Thăng Long.
Năm 2005: Bluescope Steel Vietnam đưa vào hoạt động nhà máy sản xuất thép mạ hợp kim nhôm - kẽm và mạ màu đặt tại khu công nghiệp Phú Mỹ 1, tỉnh BR-VT, sau đổi tên thành NS Bluescope.
Năm 2005: Sunsco (Maruichi Sun Steel) đưa vào hoạt động dây chuyền mạ kẽm đầu tiên tại Bình Dương, mặc dù đã được thành lập khá lâu trước đó, vào năm 1996 với tên Vina Tafong Iron & Steel.
Giai đoạn 2000 – 2010: Hình thành ngành và giai đoạn cấu trúc ngành lần thứ nhất.
Năng lực sản xuất của ngành mạ kẽm có một bước tiến lớn vào năm 2004, từ con số 100 ngàn tấn/ năm nhảy vọt lên hơn 500 ngàn tấn/năm. Đây là thời kỳ bùng nổ lần thứ nhất của ngành tôn mạ kẽm Việt Nam, thay đổi lớn nhất trong thời kỳ này là bắt đầu phổ biến ứng dụng công nghệ dao gió trong công đoạn mạ kẽm từ năm 2004. Công nghệ sử dụng không khí nén hoặc khí ni-tơ với áp suất thấp và lưu lượng cao để điều khiển lớp mạ chất lỏng vốn được sử dụng từ rất nhiều năm về trước trong ngành công nghiệp sản xuất giấy. Mãi cho đến những năm đầu thập niên 70 thì người ta mới sử dụng công nghệ này vào ngành mạ kẽm, đi đầu là nhà sản xuất thép mạ kẽm của Úc, John Lysaght, lúc đó họ có đã có 5 dây chuyền mạ kẽm liên tục sử dụng dao gió. Ở Việt Nam thì công nghệ mạ dao gió đầu tiên được triển khai tại nhà máy Posvina với thiết bị dao gió được cung cấp bởi GTE, một nhà cung của Hàn Quốc, lắp đặt và đưa vào hoạt động trong năm 1998.
Dù sản xuất trong nước có sản lượng nhảy vọt tới năm lần so với năm 2000 thì nhu cầu tôn mạ kẽm vẫn rất cao, gấp 1.5 lần so với năng lực sản xuất trong giai đoạn này. Cầu lớn hơn cung nên thị trường là của người bán, người mua không quan tâm đến chất lượng. Một thời kỳ ngọt ngào!
Huy hoàng không được lâu, chỉ sau một năm, đến 2005 thì ngành tôn mạ Việt Nam gặp cuộc khủng hoảng lần thứ nhất, cả sản xuất và tiêu thụ đều giảm hơn 10% so với năm 2004. Tình hình này cũng là chung cho ngành thép, nguyên nhân chính là sự tăng giá thép cán nóng (Hot Rolled Coils -HRC) liên tục từ 2004 cho đến đầu 2005 và giảm mạnh vào giữa cuối năm 2005.
Từ 2005 đến 2010 ngành tôn mạ Việt Nam có những bước phát triển tốt, sản lượng tôn mạ sản xuất trong nước đã đạt trên 1,2 triệu tấn vào năm 2010. Đây là giai đoạn bắt đầu hiện đại hóa ngành tôn mạ kẽm, các nhà  sản xuất tập trung vào đầu tư dây chuyền mạ kẽm với công nghệ hiện đại, sử dụng dao gió thế hệ mới, sử dụng lò ủ không ô-xy hóa (Non Oxidizing Process - N.O.F.) và chảo mạ kẽm ceramic gia nhiệt bằng các cuộn cảm (inductor) từ năm 2008 trở đi. Quy trình NOF vốn được phát triển vào thập niên 60, là một bước cải tiến lớn từ quy trình Sendzimir có từ thập niên 50, quy trình này gia nhiệt băng tôn dưới ngọn lửa trực tiếp đạt đến 600-650℃ trong khoang lò được khử hết Oxy, mục đích để đốt cháy lượng dầu bảo vệ và dầu cán trên bề mặt băng tôn, đồng thời tẩy lớp rỉ sét trên bề mặt băng tôn. Sau công đoạn này là công đoạn khử oxit sắt (reduction) để hoàn nguyên băng tôn trước khi xuống chảo mạ, tạo tiền đề cho lớp kẽm phản ứng với sắt để bám dính tốt lên băng tôn. Sơ lược vậy để thấy ngành mạ nước ta đã từng lạc hậu như thế nào, phải đến 40 năm sau khi ra đời quy trình này mới được đưa vào ứng dụng.
Đặc biệt giai đoạn này đánh dấu việc ngành mạ kẽm Việt Nam bắt đầu tự sản xuất được tôn nguyên liệu, tức thép cán nguội (Cold Rolled Coils - CRC), sản lượng thép cán nguội đạt 1,75 triệu tấn vào năm 2010.
Giai đoạn 2010 – 2020: Giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ của ngành tôn mạ kẽm, tái cấu trúc ngành lần hai.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, để lại nhiều hệ lụy cho các quốc gia, đặc biệt là đối với Việt Nam, khi mà trong giai đoạn 5 năm 2002-2007, VN luôn ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7.8% và để tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài. Đến khi khủng hoảng tài chính xảy ra thì kinh tế Việt Nam luôn nằm trong đà tăng trưởng thấp và lạm phát cao, đỉnh điểm của lạm phát năm 2008 là 20% và kéo dài cho đến năm 2011 thì nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn chồng chất thêm: Lạm phát vẫn ở mức cao, hơn 18%, lãi vay ngân hàng lên tới 24%, nhà nước tái cấu trúc ngành ngân hàng và giữ trần lãi suất huy động ở 14%, điều chỉnh giảm giá đồng tiền so với USD 9.3%. Thị trường bất động sản đóng băng, giá vàng tăng vọt lên 45 triệu đồng/ lượng, VNindex sụt giảm nghiêm trọng từ trên 500 điểm xuống dưới 350 điểm. Trong bối cảnh đó, ngành thép Việt Nam nói chung cũng như ngành tôn mạ nói riêng gặp rất nhiều khó khăn. Có thể nói đây là cuộc khủng hoảng lần thứ hai của ngành tôn mạ rất non trẻ. Đây là năm đầu tiên mà sản lượng tôn mạ sản xuất trong nước vượt nhu cầu tiêu thụ, sản xuất đạt 1,5 triệu tấn nhưng tiêu thụ thấp hơn số đó.
Tái cấu trúc ngành lần thứ hai
Sau cuộc khủng hoảng lần này, ngành tôn mạ kẽm đã bắt đầu hình thành một cấu trúc ngành mới, xuất hiện các công ty dẫn đầu có thị phần vượt trội, mức độ tập trung ngành rất cao, thị trường phần lớn nằm trong tay 5 doanh nghiệp đầu ngành. Năm 2016, tốp 5 công ty đầu ngành có sản lượng chiếm tới 77% tổng sản lượng toàn ngành[1]. Đặc trưng của giai đoạn này là thiên về tăng trưởng số lượng hơn là chất lượng. Các công ty đều cố gắng kéo dài chuỗi sản xuất tối đa nhằm tìm thêm giá trị gia tăng để đối đầu với cuộc cạnh tranh giá rất gay gắt. Phải nói là chiến lược dẫn đầu chi phí thấp bằng lợi thế quy mô năng lực sản xuất, chiếm lĩnh thị phần là xu hướng chủ đạo.
Giai đoạn 2012-2017 là giai đoạn bùng nổ đầu tư mở rộng quy mô sản xuất ngành. Công suất đầu tư tăng vọt lên rất nhiều so với giai đoạn đầu tư trong những năm 2005-2010. Trong xu hướng đó đã có một số các doanh nghiệp chọn xu hướng tăng trưởng quy mô vừa phải nhưng tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách lựa chọn đầu tư các công nghệ mới hàng đầu từ Nhật Bản và Châu Âu, điển hình là Tôn Đông Á hay các công ty mới tham gia ngành vào 2018 - 19 như Hòa Phát hay Pomina. Từ năm 2016, thị trường đã có xu hướng dịch chuyển mạnh về hướng chất lượng sản phẩm nên một số công ty có thị phần lớn buộc phải theo đuổi chiến lược này như Nam Kim hay Hoa Sen.
Giai đoạn tái cấu trúc ngành lần này là sự nổi lên dành thị phần của các công ty trong nước như Tôn Đông Á, Hoa Sen, Nam Kim, Phương Nam và Tân Vạn Phúc, các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài như Maruichi Sun Steel, NS Bluescope, CSVC đã lọt ra ngoài bảng xếp hạng top 5-7 công ty đầu ngành. Về mặt chất lượng sản phẩm, các công ty này cũng bị cạnh tranh rất mạnh bởi các doanh nghiệp nội đi theo hướng chất lượng, điển hình như Tôn Đông Á, một trong những công ty có những sản phẩm mạ kẽm, mạ lạnh và mạ màu có thể cạnh tranh về mặt chất lượng với sản phẩm với các công ty này. Nhiều công ty khác cũng bị loại ra trong bảng xếp hạng từ những năm giữa thập niên 2000s, chẳng hạn như Posvina, Đại Thiên Lộc, Tân Phước Khanh… Năm 2014 cũng chứng kiến sự giải thể của liên doanh Posvina, chấm dứt sứ mạng 16 năm như là một chất xúc tác cho ngành mạ Việt Nam phát triển.
Những dấu hiệu của đợt tái cấu trúc ngành lần thứ ba
Cuộc khủng hoảng ngành mạ lần thứ ba cũng xảy ra trong thập niên này, đó là hệ lụy của cuộc tranh chấp về thuế giữa Mỹ và Trung Quốc kéo theo các khoản thuế nhập khẩu các sản phẩm thép vào Mỹ tăng cao, nhiều hàng rào phòng vệ thương mại lần lượt được dựng lên, bắt đầu từ Mỹ, Trung Quốc, sau đó lan rộng ra các khu vực Châu Á, Châu Âu và toàn cầu.
Ngày 08/03/2018, Mỹ đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu thép và nhôm theo Section 232 đạo luật Thương mại mở rộng năm 1962, bằng hình thức tăng thuế nhập khẩu. Trong đó, một số sản phẩm thép và nhôm nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ phải chịu mức thuế 25% với thép và 10% với nhôm, bao gồm các sản phẩm của ngành tôn mạ kẽm: mạ lạnh, mạ kẽm và mạ màu.
Tổng công suất ngành mạ Việt Nam hiện đã đạt đến 7 triệu tấn/ năm, trong lúc đó tiêu thụ nội địa chỉ khoảng 4 triệu tấn/năm, nhập khẩu sản phẩm mạ khoảng 1.5 triệu tấn/năm, do đó hàng năm thường xuất khẩu đi 1.5 triệu tấn, vốn cũng chỉ mới khai thác khoảng 60% công suất, hiện nay thị trường xuất khẩu đã bị co hẹp đáng kể làm cho dư cung rất lớn. Từ quý 2-3 năm 2018 toàn ngành mạ đã thu hẹp sản xuất, có công ty phải cắt giảm đến 25% lực lượng lao động, đóng cửa tạm thời hoặc cắt giảm sản lượng nhiều nhà máy. Nhiều công ty bán bớt các nhà máy, cơ sở, bán cả nhà máy đang xây dựng để thu hồi vốn đầu tư tăng cường vốn lưu động để giảm áp lực tài chính. Phần lớn các nhà máy chỉ duy trì được công suất đạt 50-60% so với định mức.
Cuộc khủng hoảng lần này hầu như đã được dự đoán trước, khi mà trong thời kỳ 2012-2017 xảy ra sự bùng nổ trong đầu tư mở rộng quy mô sản xuất của ngành mạ, rất nhiều nhà phân tích đã đưa ra các cảnh báo lệch pha cung cầu rất nghiêm trọng tuy nhiên có vẻ như các nhà sản xuất tôn mạ vẫn chưa tính là sẽ có một cuộc khủng hoảng đến sớm như vậy. Cuộc khủng hoảng lần này dù chỉ mới xảy ra hơn một năm nhưng đã cho thấy sự tái cấu trúc thị trường đang diển ra mạnh mẽ nhất từ trước đến nay. Các công ty định hướng quy mô đang nhường thị phần cho các công ty định hướng theo chất lượng sản phẩm: Hoa Sen đã giảm 28% thị phần, từ mức 35% của năm trước còn lại hơn 25%, tương tự Nam Kim giảm từ 14% xuống còn 12%. Trong lúc đó mức tăng trưởng thị phần của Tôn Đông Á đạt 32%, tăng từ mức 14% lên 18.5%, tương tự Tôn Phương Nam tăng trưởng từ 7% lên 9.45%.
Hình 1: Diển tiến thay đổi thị phần ba năm gần nhất (2017, 2018, 2019 lần lượt từ trái sang phải)
Nguồn: VSA
Giai đoạn 2020 – 2030: Giai đoạn bão hòa và ổn định, tái cấu trúc ngành lần thứ ba
Giai đoạn 10 năm tới thị trường tôn mạ kẽm Việt Nam sẽ có nhiều biến chuyển mặc dù công suất ngành sẽ tương đối ổn định, mảng thị trường tấm lợp sẽ bão hòa. Thứ nhất là mức độ tập trung ngành sẽ giảm đi, tức có nhiều công ty có thị phần tương đương nhau trong top 5-7 doanh nghiệp đầu ngành. Thứ hai là các doanh nghiệp định hướng sản phẩm chất lượng cao và có quy mô sản xuất khá lớn sẽ chiếm thế tiên phong. Sẽ có nhiều phân khúc sản phẩm mới ra đời, tôn mạ kẽm không chỉ dùng cho tấm lợp mà sẽ dần bước sang cung ứng cho ngành công nghiệp điện máy gia dụng như tivi, tủ lạnh, máy giặt, lò nướng, máy điều hòa không khí... Thứ ba là các công ty bắt đầu chuyển sang cạnh tranh nhau bằng dịch vụ khách hàng và thương hiệu, nhất là trong mảng thị trường tấm lợp, lý do chất lượng sản phẩm các công ty sẽ dần tiệm cận đến nhau. Thứ tư là giai đoạn này sự phát triển của ngành ưu tiên phát triển theo chiều sâu và nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời kéo dài chuỗi sản xuất ra thêm. Thứ năm là xu hướng nghiên cứu để sản xuất sản phẩm mới, chẳng hạn tôn mạ kẽm có chứa thành phần Ma-giê. Thứ sáu là sự đe dọa của sản phẩm thay thế đến từ ngành thép không rỉ, ngành nhôm hay sản phẩm nhựa ngày càng lớn.
Bài viết có sử dụng một số thông tin từ các đàn anh đi trước, xin cám ơn anh Nguyễn Kim Quy, nguyên Phó phòng kỹ thuật Công ty Liên doanh Posvina và anh Ngô Ngọc Bách, nguyên Phó giám đốc Công ty Liên doanh Maruviena về các thông tin và tư liệu quý báu.
Đình Long

Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2018

Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung ảnh hưởng như thế nào đến ngành tôn mạ kẽm Việt Nam?


How does the US-China trade war affect the galvanizing industry in Vietnam?
Photo: Tôn Đông Á
Mỹ áp thuế 25% lên các sản phẩm thép nhập khẩu hoàn toàn không gây ảnh hưởng gì đến Trung Quốc.
Đã từ lâu ngành thép Trung Quốc đã tiến hành mở rộng các thị trường mới và giảm dần tỷ trọng thép xuất khẩu vào Mỹ, còn vì lý do là từ trước đến nay Mỹ vẫn luôn áp đặt thuế quan cao lên các sản phẩm thép nhập khẩu từ Trung Quốc. Theo dữ liệu của Bộ thương mại Hoa Kỳ (D.O.C.) thì trong năm 2017 Mỹ chỉ nhập khẩu một lượng nhỏ thép của Trung Quốc, khoảng 689.450 tấn, chiếm khoảng 2% sản lượng thép nhập khẩu.
Bảng 1: Nhập khẩu thép trong 5 năm gần đây của Mỹ, ĐVT: Tấn
Nguồn: Cục thống kê Hoa Kỳ
Theo báo cáo của tháng 6/2018 của bộ phận giám sát thương mại quốc tế thuộc DOC thì lượng thép Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc cũng là 2%.
Nguồn: Cục thống kê Hoa Kỳ
Trong quý 1/2018, Mỹ nhập khẩu 79% lượng thép từ 10 quốc gia trên, trong đó Canada (20%) và Brazil (13%) luôn xếp đầu bảng trong các năm gần đây, kế theo là South Korea và Mexico (11%). Chúng ta thấy thép nhập từ Trung Quốc chỉ chiếm có 2%.
Có vẻ như Mỹ đánh thuế thép nhập khẩu nặng một phần lớn là trực tiếp đánh lên các đồng minh truyền thống như Canada, Brazi, Mexico, South Korea và Nhật Bản vốn luôn chiếm tỷ trọng cao trong lượng thép xuất vào Mỹ.
Một phần có vẻ Mỹ muốn đánh thuế lên thép Trung Quốc một cách gián tiếp. Biểu đồ sau sẽ cho ta thấy Mỹ muốn đánh thuế thép lên South Korea hoặc Việt Nam là một cách đánh gián tiếp thép Trung Quốc, bởi vì cả hai nước đều nhập khẩu một lượng thép TQ lớn nhất.
Nguồn: Cục thống kê Hoa Kỳ
Trong Q1/2018, Trung Quốc đã xuất khẩu đi 14.7 triệu tấn thép các loại, và mười quốc gia trên là điểm đến của 53% tổng lượng thép xuất khẩu của Trung Quốc, khoảng 7.8 triệu tấn; trong đó Hàn Quốc nhập 2 triệu tấn, Việt Nam 1.3 triệu tấn, Philippines 0.9 triệu tấn, Indonesia và Thái Lan 0.7 triệu tấn mỗi quốc gia.
Cho dù là bị đánh thuế gián tiếp thì Trung Quốc cũng không hề hấn gì trong cuộc chiến giữa thương mại này. Hiện tại ngành thép TQ đã cắt giảm mạnh phần công suất lạc hậu, theo thông tin của hiệp hội thép TQ (CISA) thì xuất khẩu thép của họ đã giảm đi một phần ba vào năm 2017 do sản lượng thép trong nước đã giảm mạnh. Khoảng 600 lò luyện thép cảm ứng lạc hậu (induction furnaces) đã bị đóng cửa năm 2016, cắt giảm khoảng 7% công suất sản xuất hàng năm của cả nước.
Tương ứng, trên quy mô toàn cầu thì xuất khẩu thép của TQ đã giảm mạnh trong các năm gần đây, cụ thể đã giảm từ 112.4 triệu tấn năm 2015 xuống còn 75.4 triệu tấn trong năm 2016. Do đó, chính phủ TQ đã bắt đầu định hướng chỉ xuất khẩu các sản phẩm thép có giá trị gia tăng cao, họ sẽ giảm dần xuất khẩu thép thô, do đây rõ ràng không phải là mặt hàng chiến lược nữa khi mà mức độ cạnh tranh gia tăng trên toàn cầu.
6 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu thép vào Mỹ tăng.
Hình 1 cho thấy 79% lượng thép nhập khẩu vào Mỹ trong quý 1/2018 đến từ 10 quốc gia, lớn nhất là Canada với 20% và thấp nhất là Trung Quốc, 2%. Trong đó lượng thép nhập khẩu từ Việt Nam đứng thứ 11, báo cáo của DOC cho thấy đã giảm đi 32% so với quý trước nhưng không cho biết số lượng cụ thể. Tuy nhiên bản tin VSA cho thấy xuất khẩu thép Việt Nam vào Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2018 là 439 ngàn tấn; tăng mạnh so với cùng kỳ: 6 tháng đầu năm 2017 số liệu này chỉ là 250 ngàn tấn. Xuất khẩu thép Việt Nam vào Mỹ cả năm 2017 cũng chỉ hơn 500 ngàn tấn; có vẻ như hai thông tin trái ngược nhau, có lẽ phải đợi đến khi DOC ra báo cáo cho cả năm thì mới biết được.
Tổng lượng thép nhập khẩu của Mỹ trong quý 1 năm 2018 đã giảm 14.7%, chỉ còn 8.3 triệu tấn so với 9.7 triệu tấn cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 6 tháng đầu năm 2018 thép nhập khẩu vào Mỹ đã giảm đi 9.4%.
Tương tự, tổng lượng tôn mạ kẽm nhập khẩu của Mỹ trong quý 1 năm 2018 đã giảm 7.8%, chỉ còn 798 ngàn tấn so với 866 ngàn tấn của cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 6 tháng đầu năm 2018 tôn mạ kẽm nhập khẩu vào Mỹ đã giảm đi 10.8%. Sự sụt giảm này chưa phải là lớn do 5 năm trở lại đây Mỹ luôn nhập khẩu mỗi năm khoảng 2.8 - 3.0 triệu tấn tôn mạ kẽm. Tuy nhiên, sự sụt giảm trong 6 tháng cuối năm dự kiến sẽ lớn hơn khi mà các nhà sản xuất tôn mạ của Mỹ bắt nhịp kịp để nâng cao sản lượng.
Nội địa hóa sản phẩm thép cán nóng (HRC)
Việt Nam phụ thuộc vào thép cán nóng HRC nhập khẩu 100% kể từ 2016 trở về trước. Cụ thể năm 2016 nhập khẩu 5.5 triệu tấn thép HRC; Tháng 6/2017 Formosa Hà Tĩnh (FHS) đã đưa lò cao số 1, công suất 4 triệu tấn/năm, vào hoạt động và đã bắt đầu sản xuất được thép HRC, do đó, năm 2017 ta cũng chỉ nhập khẩu 5.5 tấn thép HRC cộng với 1.3 triệu tấn HRC sản xuất bởi FHS.
Bên cạnh đó kể từ đầu năm 2018, Mỹ đánh thuế mạnh lên các sản phẩm tôn mạ sản xuất ở Việt Nam có nguyên liệu từ HRC có nguồn gốc từ Trung Quốc (Mỹ gọi là Chinese-produced steel), nên các nhà sản xuất tôn mạ VN đã giảm dần việc nhập lượng thép HRC từ TQ. Tuy nhiên như đã nêu ở trên, các nhà sản xuất thép HRC của TQ hay các sản phẩm thép nói chung đã bắt đầu thấy áp lực cạnh tranh ngày càng tăng ở khu vực Đông Nam Á do năng lực sản xuất  thép ở đây gia tăng rất nhanh; mặt khác các quốc gia như Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Indonesia tiếp tục đánh thuế chống phá giá lên thép TQ. Do đó, họ đã và đang chuyển hướng hoạt động sang thị trường Nam Mỹ và châu Phi. Cụ thể là ArcelorMittal South Africa, là công ty có toàn bộ sản lượng thép chỉ phục vụ cho thị trường châu Phi, cho biết mức độ canh tranh đang tăng cao từ thép nhập khẩu của TQ.
7 tháng đầu năm 2018, FHS đã cung cấp khoảng hơn 1.7 triệu tấn HRC. Họ cũng đã đưa lò cao số 2, công suất 4 triệu tấn/năm vào hoạt động từ tháng 5/2018 nâng công suất sản xuất thép thô của FHS lên 7 triệu tấn/năm, nên dự kiến cả năm 2018 FHS sẽ sản xuất được khoảng 5 triệu tấn HRC, đủ đáp ứng nhu cầu trong nước.
Bên cạnh đó, liên hợp thép Hòa Phát Dung Quất ở Quảng Ngãi có khả năng sẽ bắt đầu đi vào hoạt động cuối năm 2019, cung cấp thêm một phần HRC trong năm 2019 nữa. Khi hoạt động hết công suất sẽ cung cấp ra 3.5 triệu tấn thép HRC cho thị trường nội địa, cộng với sản lượng tăng thêm từ FSH thì Việt Nam sẽ nhanh chóng chuyển từ nước nhập khẩu sang nước xuất khẩu HRC kể từ năm 2020.
Sản xuất được HRC trong nước chúng ta giảm bớt một mối rủi ro về tỷ giá, như tình trạng từ đầu năm 2018 đến nay tỷ giá điều chỉnh khá nhiều lần, làm cho giá cả HRC nhập khẩu tăng cao cũng như làm tăng gánh nặng cho các khoản vay bằng tiền USD, ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả hoạt động của các DN tôn mạ kẽm.
Thị trường tôn mạ kẽm Việt Nam nữa đầu năm 2018: bão hòa tạm thời!
Thị trường tôn mạ kẽm Việt Nam nữa đầu năm 2018 có rất nhiều dấu hiệu của một thị trường bão hòa, tuy rằng có thể là ngành công nghiệp này vẫn đang ở trong một quá trình tăng trưởng (growth stage) nếu tính trong dài hạn, nhưng rõ ràng trong ngắn hạn thì năm 2018 dường như cho thấy một thị trường bão hòa tạm thời (maturity stage) qua các dấu hiệu sau:
Hình 3: Vòng đời sản phẩm (PLC)
Nguồn: Barrett Sales Blog
+ Doanh số bán hàng (revenue) tăng mạnh nhưng lợi nhuận giảm và nhu cầu tiệm cận đến bão hòa. Trong quý 2/2018, doanh thu của NKG tăng 38.2%, tuy nhiên lợi nhuận sau thuế giảm 43.8% so với cùng kỳ; tương tự với HSG: doanh thu tăng 42.8%, tuy nhiên lợi nhuận sau thuế giảm 69.5%.
+ Số lượng các nhà sản xuất trong ngành tăng mạnh, doanh nghiệp hiện hữu gia tăng công suất, doanh nghiệp mới gia nhập ngành tăng trưởng cả về số lượng lẫn quy mô. Gia tăng đầu tư nâng công suất như NKG, HSG, TDA, TVP, TPN, TPK… cộng với công suất mới gia nhập ngành như Mỹ Việt, HPG, Vinaone làm quy mô ngành tăng nhảy vọt từ 4.63 triệu tấn/năm 2017 lên đến 6.1 triệu tấn /năm trong 2018, đó là chưa tính dự án cán-mạ 375 ngàn tấn/năm của Pomina đi vào hoạt động trong năm tới.
+ Giá cả có xu hướng giảm do sức ép cạnh tranh, 6 tháng đầu năm 2018 là một cuộc đua về giá bán, hệ quả là doanh số tăng mạnh nhưng lợi nhuận cũng giảm mạnh.
+ Sự khác biệt về thương hiệu và sự đa dạng hóa đặc tính sản phẩm được khai thác để duy trì thị phần. Chi phí marketing của các công ty trong ngành đều tăng cao.
+ Lợi nhuận (profit) ngành giảm: Mức lợi nhuận trên doanh số (ROS) đối với các doanh nghiệp sở hữu chuỗi sản xuất cán nguội – mạ kẽm – mạ màu trung bình 5-8% trước đây, hiện nay đều giảm như NKG giảm 50%, còn 2.5%; HSG còn tệ hơn khi ROS quý 2 chỉ đạt 0.8%.

Đình Long

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

Sơ lược về ngành công nghiệp thép tấm mạ kẽm toàn cầu

A BRIEF INTRODUCTION OF GLOBAL GALVANIZED STEEL SHEETS & COILS INDUSTRY


            Kể từ tháng 3 cho đến tháng 6 năm 2018 chính phủ Mỹ liên tục đưa ra các chính sách điều chỉnh thuế nhập khẩu thép và nhôm trên cơ sở mục 232 của đạo luật mở rộng thương mại năm 1962 (Section 232 of the Trade Expansion Act of 1962). Cụ thể thuế nhập khẩu đánh lên các sản phẩm thép nhập khẩu là mức 25% có hiệu lực từ 23/3/2018 áp dụng cho toàn bộ các quốc gia, ngoại trừ một số nước có hạn ngạch nhập khẩu cụ thể như Argentina, Brazil và South Korea.
Ngành thép Việt Nam bị ảnh hưởng khá nặng nề bởi quyết định áp thuế này. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp sản xuất thép mạ kẽm, do các thị trường truyền thống lớn là các nước ASEAN đang ngày càng gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của Trung Quốc, mặt khác các nước này cũng liên tục áp thuế tự vệ trong thời gian gần đây, do đó Mỹ được xem là một thị trường tiềm năng đối với các doanh nghiệp tôn mạ kẽm Việt Nam. Khó khăn ở thị trường xuất khẩu gây áp lực cạnh tranh gia tăng lên thị trường nội địa khi mà nhu cầu nội địa dự báo 4.65 triệu tấn năm nay trong khi năng lực sản xuất là 7 triệu tấn/ năm. Theo số liệu của VSA, xuất khẩu tôn mạ các loại trong 6 tháng đầu năm 2018 chỉ mới đạt 880 ngàn tấn, trong lúc sản lượng xuất khẩu dự kiến cần phải đạt trên 2 triệu tấn trong năm 2018 mới cân bằng với năng lực sản xuất trong nước. Mặt khác cần phải kiểm soát tốt lượng tôn mạ kẽm nhập khẩu dưới 1.5 triệu tấn.
Giai đoạn khó khăn này sẽ nhanh chóng qua đi khi các quốc gia lớn như Mỹ, Trung Quốc và các nước EU sớm cân bằng lại các lợi ích trong các cuộc chiến thương mại đang diễn ra. Ngành thép mạ kẽm vẫn là ngành công nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng ổn định trên thế giới, theo số liệu của Technavio thì tỷ lệ tăng trưởng kép CAGR của ngành hàng năm trung bình là 5% từ đây cho đến 2020.
Sản lượng kẽm thế giới tăng trưởng khoảng 2% mỗi năm như biểu đồ bên dưới:
Hình 1: Sản lượng kẽm toàn cầu năm 2004 -2017

Nguồn: Statista 2018

Hình 2: Tiêu thụ kẽm toàn cầu năm 2004 -2017
Nguồn: Statista 2018

Trong năm 2017 toàn thế giới sản xuất ra 13.6 triệu tấn kẽm nguyên chất, tiêu thụ khoảng 14.1 triệu tấn, trong đó ngành công nghiệp thép mạ kẽm có tỷ trọng tiêu thụ lớn nhất, chiếm 50% lượng tiêu thụ kẽm, tức khoảng 7 triệu tấn đã được sử dụng trong ngành thép mạ kẽm. Trong đó lượng Trung Quốc tiêu thụ chiếm khoảng 45%, tức khoảng 6.3 triệu tấn, Trung Quốc cũng sử dụng khoảng 57% kẽm nguyên chất cho ngành thép mạ kẽm, tức là 3.6 triệu tấn.
Ước tính quy mô ngành thép tấm mạ kẽm trên thế giới:  
Trên thế giới, người ta phân loại các sản phẩm của ngành thép mạ kẽm gồm có bốn loại chính như sau:
+Tấm và cuộn mạ kẽm (Sheets and strips/coils)
+Kết cấu thép (Structures)
+Ống và tube (Pipes and tubes)
+Dây thép mạ kẽm và ứng dụng khác (Wires and others)
Chúng ta chỉ tìm hiểu  loại tấm và cuộn mạ kẽm (Sheets and strips/coils), theo thống kê năm 2015 thì thép tấm và cuộn mạ kẽm chiếm 61% tỷ trọng.
Theo thống kê ở trên thì toàn bộ ngành công nghiệp mạ kẽm toàn cầu tiêu thụ 7 triệu tấn kẽm năm 2017, trong đó ngành mạ kẽm thép tấm và cuộn chiếm 61% tức là 61% x 7 triệu tấn = 4.27 triệu tấn. Giả sử trung bình cần 40 kg kẽm trên một tấn thép tấm mạ kẽm thì với 4.27 triệu tấn kẽm sản xuất ra khoảng 106 triệu tấn thép tấm mạ kẽm hay gọi theo Việt Nam là tôn mạ kẽm. Một thị trường với quy mô hơn 85 tỷ USD quả là khá lớn.
Dựa trên sản lượng tiêu thụ kẽm năm 2017, tác giả ước tính sản lượng tôn mạ kẽm do Trung Quốc sản xuất khoảng 50 triệu tấn/năm, chiếm khoảng 50% tổng sản lượng tôn mạ kẽm toàn cầu.
Theo thống kê thì các ngành sử dụng thép mạ kẽm nhiều nhất là:
+Xây dựng và hạ tầng (Infrastructure and construction)
+Công nghiệp (Industrial)
+Năng lượng (Power)
+Xe hơi và phương tiện giao thông (Automobile and transportation)
+Nông nghiệp (Agriculture).
Trong đó nhu cầu thép mạ kẽm cho ngành xây dựng và hạ tầng chiếm khoảng 37% trong thập kỷ này. Việt Nam đặc biệt có nhu cầu cao trong lĩnh vực này khi mà cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn cần đầu tư phát triển, mặt khác nhu cầu nhà ở luôn ở mức cao làm gia tăng nhu cầu cho các ngành thép cũng như ngành tôn mạ kẽm.
Các nhà sản xuất tôn thép mạ kẽm hàng đầu trên thế giới gồm có: ArcelorMittal, Baosteel, Gerdau, JFE Steel, NSSMC, Nucor, Posco… tôi sẽ giới thiệu chi tiết một vài nhà sản xuất lớn trong chuyên đề tiếp theo.

Đình Long

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

Impressive growth of the galvanized steel sheets industry in Vietnam

Picture 1: Galvanizing production at Ton Dong A Corporation
            Vietnam steel industry had an impressive business year in 2016, according to Vietnam Steel Association (VSA), in 2016 the total steel products that VSA member companies produced was 17.5 million tons, up 16.8% over 2015. Consumption reached 15.3 million tons, up 23.7% compared to 2015. In that context, the galvanized steel sheets industry has grown very well, production reached 3.37 million tons, consumption was 2.93 million tons, it was a growth of 25% compared with 2015.
 The galvanized steel sheets industry in Vietnam, temporarily defined in this article, includes coils with over 600 mm width, produced by the continuous galvanizing lines using non-oxidizing furnace technology (NOF). The coating material can be zinc (99.5% Zn) called GI coils or aluminum zinc alloy (55% aluminum + 43.5% zinc + 1.5% silicon) which called GL coils. The galvanized steel sheets industry described in this article also includes the color coated steel sheets & coils (PPGI / PPGL/ PCM).
The level of industry centralization
Vietnam's galvanized steel sheets industry is now considered to be highly centralized, with top 5 leading companies accounting for 77% of total industry output in 2016.
Table 1: Top five leading companies in 2016
Ranking
Companies
Sales in 2016, thousand tons
Products
1
Hoa Sen Group
1242
GI, GL, PPGI, PPGL and GI pipes
2
Nam Kim Group
540
GI, GL, PPGI, PPGL and GI pipes
3
Ton Dong A Corp.
365
GI, GL, PPGI, PPGL
4
Ton Phuong Nam
230
GI, GL, PPGI, PPGL
5
Maruichi Sun Steel
230
GI, GL, PPGI, PPGL and welded steel pipes
The sales of Maruichi Sun Steel was only estimated by author
Source: Annual Reports and VSA
The sales of Hoa Sen and Nam Kim, although were high, however, it included the production of galvanized welded steel pipes, which accounted for a significant volume due to the higher thickness compared with galvanized steel sheets. Welded galvanized steel pipes in Vietnam normally have thickness around 1.2 and 2.0 mm, while galvanized steel sheets in Vietnam have an average thickness of only around 0.3-0.6 mm
The investment overview of the sector
There are currently 11 large galvanizing companies and 5 smaller companies in Vietnam with a design capacity of 4.63 million tons per year, in which mainly about 20 continuous galvanizing lines (CGL) adopted N.O.F. technology, only about two lines used the old technology dry-flux. The 5 small companies are adopting the old technological galvanizing lines which called wet-flux or dry-flux technology, the capacity of these companies is not yet determined.
Those new entrants with high capacity are Hoa Phat, Pomina, My Viet Olympic and Vinaone are expected to make the market more exciting. Leading companies such as Ton Dong A, Nam Kim and Hoa Sen continue to make large investments to scale up, and smaller companies are also developing their investment plans. According to my statistics, by the year 2018, there is about 11 galvanizing lines will be installed, bringing the total coating capacity up to 46%, from the current 4.39 million tons to 6.4 million tons per year or more!
Table 2: Installed capacity and production in recent years
Years
2015
2016
2017E
2018F
Installed capacity, million metric tons
3.39
4.18
4.39
6.40
Production, million metric tons
3.15
3.37
3.63
3.92
Capacity growth rate
23%
5%
46%
Mining factor
93%
81%
63%
61%
Source: Author calculates based on market information and cross-checked with corporates investment announcements
The growth of capacity is almost two-year cycle, due to the time needed to manufacture and installing a continuous galvanizing line is around 16-20 months. Galvanizing manufacturers in Vietnam have a habit of observing market demand and looking at the movement of each other to invest, therefore, the capacity is normally increases with the same cycle. Table 2 shows mining factor is decreasing, it may show that the supply is higher than the demand
The capacity galvanizing steel coils will be 6.4 million tons per year for a country of 100 million people is a hard-to-imagine figure. Compared to India: With a population of 1.36 billion people and a country with a longer steel industry than Vietnam, there are many large steel companies ranking in the world, such as JSW or Tata, with total steel output in 2016 was 95.6 million tonnes, ranking third in the world, however, its total galvanized steel sheets production in 2016 was 6.4 million tonnes only!
However, the investment speed in expanding production in the galvanizing industry seems not slowdown at all, many people have asked author whom will consume that such large production. Of course, the galvanizing makers do not invest without calculation, they can see the current demand as well as forecast the potential demand through daily business. I hope can make clear this question mark in the forthcoming SWOT analysis of Vietnam's galvanized steel industry
Development strategies of Vietnam's galvanized steel industry
Development strategies are currently in widespread used:
-        Horizontal development: Invest in increasing the scale of production. Steel enterprises in Vietnam at the moment do not have M&A practice, thus, increasing financial leverage to invest or going to public to raise capital as common options
-        Vertical development: Large galvanized steel sheet manufacturers such as Ton Dong A, Nam Kim and Hoa Sen have always tended to have investments of integrating the supply chain, which are indispensable conditions for controlling raw materials and reducing production costs in order to increase profit margins. One typical example that is the movement of increasing the cold rolling capacity: Currently, the cold rolling capacity is more than 5 million tonnes produced by 15 reversing cold rolling mills, almost the mills are single-stand mills (CRM), including two double stands reversing cold rolling mills. Estimating there are three more double stands mills will be operated in 2017-2018. The cold rolling capacity will be increased 3.6 million tonnes more in 2017-2018, thus the rolling capacity of Vietnam will be 8.6 million tonnes per year in 2018. There are some signals indicated that the large GI makers are considering to invest the tandem cold mills (TCM).
-        Product diversification: One example that is the galvanized steel sheet manufacturers join increasingly more in the steel pipe market. The other movement is the improvement of product quality to penetrate the high quality products markets such as home appliances and the car industry. This strategy requires a long-term effort, requiring management, technology and capital capability
-        Of course, the steel makers of Vietnam always try to restructure the organization system and re-designing the management system towards modern structures, building and developing human resources in accordance with world standards.

Part 2: SWOT Analysis of Vietnam’s galvanized steel industry

     Dinh Long