Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2023

Cả thế giới là con nợ, vậy ai là chủ nợ?

Cả thế giới giờ là con nợ, vậy ai là chủ nợ?


Debt cycle
Nguồn: Ray Dalio

Thử xem trên thế giới hiện nay nước nào vay nhiều nhất? Hình bên dưới là top 10 quốc gia có mức nợ lớn nhất hiện tại:

Hình 1: List các quốc gia nợ nước ngoài[1]


Nguồn: Wikipedia

Cần giải thích một chút, đây là giá trị nợ hiện tại mà các quốc gia đang vay nợ từ các cá nhân hay các thực thể kinh tế ngoài đất nước, do thương mại luôn có hai chiều nên các quốc gia này cũng đồng thời cho các quốc gia khác vay nợ. Do đó muốn đánh giá quốc gia nào đang là quốc gia cho vay (tức là thặng dư tài chính) hay là quốc gia đang mắc nợ (tức là làm ra thì ít mà tiêu pha thì nhiều nên phải vay thêm bên ngoài để tiêu) thì phải lấy giá trị mà họ cho vay trừ đi giá trị họ vay, thuật ngữ tài chính gọi là NIIP (net international investment positions). Nếu NIIP dương thì là quốc gia đang làm ra của cải nhiều hơn chi tiêu.

Ở list trên, Mỹ là con nợ khủng nhất với giá trị nợ là 31 ngàn tỷ đô la (USD). Tiếp theo là Anh với 8.7 ngàn tỷ, Pháp với 7 ngàn tỷ, Ý với 2.5 ngàn tỷ (hiện đã lên tới 3 ngàn tỷ!), Canada với 3.2 ngàn tỷ (hiện đã giảm còn 1.2 ngàn tỷ) đô la. Các nước như Đức, Nhật và Trung Quốc tuy có nợ cao nhưng giá trị họ cho vay còn cao hơn nên không tính.

Cả thế giới ai cũng nợ thì tiền đến từ đâu và ai là người cho vay?

Nguồn tiền chủ yếu sinh ra thông qua việc phân bổ lại các khoản tiết kiệm đã có trong nước. Ví dụ, các công ty hưu trí sử dụng tiền tiết kiệm hưu trí và các công ty công nghiệp sử dụng tiền lợi nhuận của công ty để mua trái phiếu của chính phủ (nói cách khác là cho nhà nước vay) hoặc mua trái phiếu có bảo đảm (tức là cho ngân hàng vay tiền và sau đó ngân hàng cho những người nắm giữ tài sản như bất động sản vay tiền). Nếu vẫn còn thâm hụt sau khi phân bổ lại trong các lĩnh vực trong nước, các quốc gia có thể huy động tiền từ các quốc gia có thặng dư tài chính. Điều này không nhất thiết phải ở dạng cho vay; chẳng hạn, quốc gia có thặng dư tài chính có thể mua tài sản như cổ phiếu, bất động sản hoặc trái phiếu của quốc gia bị thâm hụt.

Hình 2: List các công ty thặng dư tài chính hay có NIIP dương


Nguồn: Wikipedia

Các quốc gia vùng vịnh không có trong list này, có lẽ do số liệu tài chính của họ không công khai hoặc không thể thống kê chính xác. Thực tế các quốc gia sản xuất dầu luôn là quốc gia cho vay, là các quốc gia thặng dư tài chính. Ngoài ra các quốc gia có truyền thống thặng dư tài chính cao là Đức, Nhật, Trung Quốc…Hiện tại NIIP cao nhất là Nhật Bản với thặng dư 2.8 ngàn tỷ USD, Đức và Trung Quốc tương đương nhau là 1.6 ngàn tỷ USD[2].

Khủng hoảng kinh tế và chu kỳ thắt mở tín dụng

Có rất nhiều số liệu kinh tế có tương quan với các đợt khủng hoảng kinh tế, trong đó chu kỳ nợ là một trong các yếu tố liên quan mật thiết. Chu kỳ thắt - mở tín dụng cứ lặp lại muôn thuở theo một nguyên tắc là cứ kinh tế suy thoái thì các chính phủ in tiền ra kích thích chi tiêu, ví dụ như Mỹ đã bơm ra thị trường 4 ngàn tỷ đô trong những năm 2008-2014 thông qua các gói QE để kích thích kinh tế sau khủng hoảng tài chính 2008; trong thời kỳ dịch bệnh Covid 2019, trong hai năm 2020-2021 Mỹ cũng đã bơm khoảng 3.5 ngàn tỷ đô ra thị trường. Tiền nhiều trôi nổi bên ngoài chắc chắn sẽ làm giá cả tài sản tăng, lạm phát tăng, các kiểu bong bóng bất động sản hay chứng khoán hình thành. Khi các tài sản tăng giá quá nóng, lạm phát tăng cao lên mức 8-9% như ở Châu Âu và Mỹ, nguy cơ gây đổ bể hoặc bắt đầu có dấu hiệu đổ bể thì các chính phủ vội vã thu tiền về lại hay gọi là thắt chặt tín dụng. Giá tài sản xì hơi, nhà đầu tư chết dở, kinh tế thì trì trệ, ai cũng giữ tiền, không muốn chi tiêu mà cũng chẳng muốn cho ai vay, thế là ta đã nghiễm nhiên ở trong một chu kỳ suy thoái. Nghịch lý là khi ngân hàng cho vay một khoản vay thì lập tức sẽ có một lượng tiền mới xuất hiện trên thị trường, là doanh thu của người này và công ăn việc làm của người kia, còn khi ngân hàng thu tiền về thì tiền cứ thế biến mất chứ không phải là thu về để cho người khác vay. Vì tiền sinh ra từ hư không nên thu về cũng trở thành hư không.

Chu kỳ tín dụng theo công ty Western Asset[3]: Giai đoạn mở rộng (Expansion) thường gắn liền với các tiêu chuẩn cho vay tương đối dễ dàng, nguồn vốn sẵn có, lượng vay mượn gia tăng và số liệu đòn bẩy gia tăng. Suy thoái (Downturn) bắt đầu khi các công ty tranh giành nguồn lực để đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ gia tăng do tăng trưởng kinh tế bị đình trệ. Các tiêu chuẩn cho vay thắt chặt và chi phí đi vay tăng lên. Vốn khả dụng bị giảm và chỉ các thực thể cấp cao nhất mới có thể tiếp cận được. Khi tính thanh khoản giảm đi, các công ty bắt đầu phá sản và tỷ lệ vỡ nợ tăng lên. Giai đoạn sửa chữa (Repair) được ghi nhận khi các công ty có thể ngăn chặn sự suy giảm các điều kiện tín dụng cơ bản bằng cách bổ sung thanh khoản và ổn định bảng cân đối kế toán của họ. Thanh khoản được tăng cường và giảm đòn bẩy bằng nhiều biện pháp bao gồm cắt giảm chi phí, phát hành cổ phiếu và bán tài sản. Khi dòng tiền tự do bắt đầu tăng và tỷ suất lợi nhuận tăng, các công ty bước vào giai đoạn phục hồi (Recovery). Sau khi đã vượt qua giai đoạn khó khăn, các công ty vẫn thận trọng và duy trì sự tập trung vào quản lý bảng cân đối cho đến khi đạt được mức tăng trưởng bền vững, mở ra một giai đoạn mở rộng khác.

Hình 3: Chu kỳ tín dụng 4 pha


Khả năng cao là hiện tại chúng ta đang ở trong giai đoạn sửa chữa. Đã có khá nhiều tín hiệu tốt cho thấy giai đoạn này sẽ hoàn thành vào cuối năm 2023 để mở đầu cho thời kỳ bắt đầu phục hồi vào năm 2024.

Hình 4: Nợ toàn cầu trong 51 năm qua

Để cứu nguy kinh tế trong đại dịch COVID-19 (bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus SARS-CoV-2 gây ra), các nước bơm ra một lượng tiền lớn trong năm 2020, đẩy mức nợ toàn cầu nhảy vọt 29 điểm %, đạt mức 257% GDP vào năm 2020. Sau đó hạ nhiệt giảm nhanh 10% vào 2021 và đã tiếp tục giảm khoảng 12% nữa trong năm 2022 thông qua các biện pháp thắt chặt tín dụng để giảm lạm phát[4]. Tín dụng giảm chắc chắn là kinh tế suy thoái, điều này đã xảy ra trong hai năm 2021-2022, theo kinh nghiệm hai đợt suy thoái trước thì mất khoảng một năm nữa thì kinh tế mới hồi phục, điều này hoàn tương quan với kế hoạch tiếp tục tăng lãi suất tiếp tục của Fed trong năm 2023. Đồng đô la Mỹ là đồng tiền mạnh, do đó các nước khác muốn nới lỏng tiền tệ thì phải nhìn Fed để làm theo, Fed thắt chặt thì các nước khác đều phải thắt chặt theo, nếu không sẽ bị rơi vào tình cảnh phá giá tiền tệ. Fed nới lỏng thì chắc chắn các nước buộc phải nới lỏng, nếu không đồng nội tệ sẽ tăng giá gây bất lợi cho nền kinh tế. Đó chính là thời điểm mọi cá nhân đều có tiền, giá tài sản tăng, ai cũng cảm thấy giàu có hơn, chi tiêu mạnh hơn, lãi suất giảm mạnh nên các công ty vay tiền nhiều hơn cho đầu tư, đó chính là thời điểm kinh tế phục hồi.

Nhân loại sống chung với nợ đến bao giờ?

Liệu chúng ta có thể sống mà không cần nợ? Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy một thế giới không nợ là một thế giới không tưởng. Bản chất sự thịnh vượng của loài người là nhờ nợ. Thêm nữa, văn hóa chúng ta khuyến khích nợ, đến trẻ con bây giờ cũng biết tiêu dùng nhiều là tốt cho nền kinh tế, là yêu nước. Văn hóa sở hữu tài sản và tiêu dùng luôn được cổ xúy thì làm sao phía kêu gọi tiết kiệm cân bằng lại được. Sinh viên kinh tế nào chẳng được dạy là nợ là tốt, doanh nghiệp không nợ là chưa biết khai thác sức mạnh đòn bẩy tài chính.

Chúng ta cứ trải qua các chu kỳ thắt chặt nợ rồi nới lỏng nợ, kèm theo các nổi đau kinh tế lặp đi lặp lại muôn thuở. Cơ bản là chúng ta giải bài toán khủng hoảng nợ chỉ bằng cách tăng thêm nợ; việc giữ nguyên tỷ lệ nợ hoặc giảm tỷ lệ nợ quốc gia là điều không tưởng. Điều đáng nói là mức nợ cứ ngày càng tăng, hiện là 250% GDP, rồi sẽ tới 500, 1000% GDP…, thế giới sẽ ra sao nếu mức nợ cứ tăng tiếp tục như vậy? Rõ ràng là thế giới vẫn đang phải mò mẩm trong một cuộc thử nghiệm tài chính trên quy mô khổng lồ mà chưa có hồi kết.

Phan Đình Long

[1] https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_external_debt

[2] https://en.m.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_net_international_investment_position_per_capita

[3] https://www.westernasset.com/us/en/research/whitepapers/where-are-we-in-the-credit-cycle-2018-01.cfm

[4] https://www.reuters.com/markets/global-debt-sees-first-annual-drop-since-2015-iif-2023-02-22/