Thứ Bảy, 3 tháng 6, 2017

Ngành thép Hàn Quốc và sự thành công của Posco

Korea Steel Industry and Posco’s case
  

Ảnh 1: Cổng vào nhà máy tích hợp Kwangyang integrated steel works của Posco

Hàn Quốc, một trong bốn con hổ châu Á cùng với Hồng Kông, Singapore và Đài Loan, là bốn đất nước phát triển thông qua định hướng xuất khẩu và quá trình công nghiệp hóa, qua đó liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao từ thập niên 60 cho đến ngày nay. Trong lúc Hồng Kông và Singapore trở thành các trung tâm tài chính và dịch vụ trung chuyển hàng đầu thế giới thì Hàn Quốc và Đài Loan đã và đang trở thành các trung tâm sản xuất xe hơi, linh kiện, thiết bị điện tử và công nghệ thông tin của thế giới.
Kinh tế Hàn Quốc năm 2016 đạt GDP là 1411 tỷ đô la Mỹ, xếp thứ 11 thế giới, GDP bình quân đầu người hơn 28,000 USD và dự kiến đạt 31,000 USD vào năm 2018[1], có thể tham gia vào hàng ngũ các nước phát triển châu Âu như Pháp và Ý. Thật khó có thể tưởng tượng nổi GDP của họ chỉ đạt 100 đô la Mỹ trên đầu người vào năm 1963, thời điểm mà tổng thống Park Chung Hee lật đổ chính quyền của tổng thống Lee Myung Bak (Lý Thừa Vãn) và lên nắm quyền, trở thành tổng thống thứ hai của Hàn Quốc.
Ngay từ thập niên 1960s, Hàn Quốc đã tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp nặng, đóng tàu và sản xuất ô tô. Hiện tại, Hàn Quốc có nhiều công ty rất lớn hoạt động trên toàn cầu như Huyndai và Samsung. Năm 2015, hai tập đoàn Hyundai và Kia Motor đã tiêu thụ được 8 triệu xe hơi, trở thành nước đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất ô tô[2]. Bên cạnh đó, Hàn Quốc, thông qua hai công ty Samsung Electronics và SK Hynix mà có thứ hạng xếp hàng đầu thế giới về sản xuất chip bán dẫn vào năm 2016[3].
Chính phủ Hàn Quốc không nghi ngờ gì, đã xác định ngành thép là một trong các ngành kinh tế cơ sở quan trọng nhất (generative sector), là một trong những ngành kinh tế thu hút một lượng vốn đầu tư lớn, vừa đóng vai trò tập hợp vốn, kiến thức và công nghệ, và sau đó là nguồn của các sáng tạo trong công nghệ và quản lý cho các ngành liên quan tham khảo. Sản phẩm sắt thép là nguyên liệu đầu vào cơ bản của hầu hết các ngành công nghiệp trọng điểm như ngành công nghiệp sản xuất xe hơi, phương tiện giao thông vận tải, ngành đóng tàu, containers, ngành điện máy gia dụng và ngành xây dựng, do đó có thể nói ngành thép chính là chất xúc tác cho sự tăng trưởng các ngành kinh tế liên quan của Hàn Quốc để có được các thành tựu như ngày hôm nay.
Sản lượng thép Hàn Quốc trong mười năm trở lại đây luôn được xếp hạng thứ năm hoặc thứ sáu thế giới, với sản lượng thép thô sản xuất tương ứng các năm 2014, 2015 và 2016 là 71.5 triệu tấn, 69.7 triệu tấn và 68.6 triệu tấn.
Hình 2: Biểu đồ sản lượng thép thô Hàn Quốc 10 năm gần đây
                      Nguồn: WSA
Các công ty thép hàng đầu của Hàn Quốc
Ngành thép Hàn Quốc ngay từ lúc mới hình thành và phát triển đã là một ngành có mức độ tập trung hóa rất cao, sản lượng của ba nhà sản xuất thép hàng đầu gồm Posco, Huyndai và Dongkuk chiếm đến 95% tổng sản lượng thép cả nước trong các năm 2015 và 2016
Bảng 1: Các nhà sản xuất thép hàng đầu Hàn Quốc trong năm 2015 & 2016
Xếp hạng
Công ty
Sản lượng thép thô sản xuất năm 2015, triệu tấn
Sản lượng thép thô sản xuất năm 2016, triệu tấn
1
POSCO
42
41.5
2
HUYNDAI Steel Company
20.4
20
3
Dongkuk Steel Mill
3.7
3.8
Nguồn: WSA và báo cáo tài chính của Dongkuk

Hàn Quốc là nước xuất khẩu thép lớn thứ ba thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản. Giống như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng xuất khẩu khoảng 40% sản lượng thép sản xuất ra hàng năm. Năm 2015 Hàn Quốc xuất khẩu 22.5 triệu tấn, chiếm 44.2% sản lượng sản xuất, trị giá 16.7 tỷ đô la Mỹ, phần lớn xuất khẩu đến các nước châu Á và Mỹ, các nước nhập khẩu thép từ Hàn Quốc lớn nhất là Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản. Năm 2016 Việt Nam nhập khẩu 1.8 triệu tấn thép các loại từ Hàn Quốc[4].

Câu hỏi là ngành thép Hàn Quốc đã bắt đầu như thế nào để có ngày hôm nay? Câu trả lời bắt đầu từ quá trình hình thành tập đoàn sắt thép Posco
          Cho đến năm 1910, khi Triều Tiên bị Đế quốc Nhật Bản xâm chiếm, ngành thép của Hàn Quốc rất thô sơ, quy mô rất nhỏ và công nghệ cũ, chủ yếu luyện phế bằng lò hồ quang. Sau khi chiếm đóng, Nhật Bản đã xây dựng một số nhà máy thép nhỏ dọc miền duyên hải Triều Tiên. Phần lớn các nhà máy này đã bị tàn phá bởi cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950-53. Năm 1966 sản lượng thép cả nước chỉ có 185 ngàn tấn, sản xuất nhỏ lẻ trong các nhà máy thô sơ lạc hậu. Vào năm 1970, ngành thép Hàn Quốc có thể nói là chưa thành hình, sản xuất vẫn nhỏ lẻ, chưa có nhà máy tích hợp (integrated works), phần lớn sử dụng lò điện hồ quang để luyện thép, sản lượng thép quốc gia chỉ đạt 481 ngàn tấn.
          Là một quốc gia thiếu cả quặng sắt và than, sau chiến tranh chia cắt, họ thiếu cả nguồn vốn để xây dựng đất nước. Năm 1965 một dự án nhà máy liên hợp sản xuất thép (integrated work) ở Ulsan với công suất 300 ngàn tấn/ năm đã bị phá sản, lý do là chính phủ Hàn Quốc không thể huy động được nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
          Tháng 5/1965, tổng thống Park Chung Hee sang thăm Mỹ và đã gặp chủ tịch F.Foy của công ty công nghệ thép Koppers ở Pittsburgh, ông này phân tích rằng không một quốc gia nào có thể tự huy động một nguồn vốn khổng lồ để xây dựng nhà máy thép tích hợp 500 ngàn tấn/ năm, do vậy tốt nhất là bắt tay với các công ty sắt thép và tổ chức tài chính phương tây để hình thành nên một liên doanh quốc tế. Sau khi trở về nước, ông phân công viên thiếu tướng về hưu  Park Tae Joon lúc này đang làm tổng giám đốc của công ty Hàn Quốc Vonfram (Korea Tungsten Company) và đã có công giải cứu thành công công ty này tránh bị phá sản – tiếp xúc với các công ty thép lớn của Nhật Bản. Lý do sao Park Chung Hee chọn Park Tae Joon là bởi vì cuộc đời của Park Tae Joon khá gắn bó với đất nước Nhật Bản. Năm lên 6 tuổi ông đã theo cha sang Nhật Bản sinh sống và học tập ở đó, khi trưởng thành lúc đang học dang dở năm hai của Đại học Waseda thì năm 1945 ông bỏ về nước sau khi Hàn Quốc dành độc lập từ Nhật Bản. Có thể nói là tuổi thơ của Park Tae Joon phần lớn là ở đất Nhật Bản, trong thời gian sinh sống và học tập ở Nhật Bản, Park Tae Joon từng đi nghe Yasuoka diển thuyết và sau đó quen biết ông. Yasuoka Masshiro (1898-1983) có vai trò lãnh đạo tinh thần trong giới chính trị và doanh nhân của Nhật Bản sau thế chiến thứ hai. Ông rất được tôn kính ở Nhật Bản và được coi là bậc thầy về Dương Minh học[5]. Sau này cũng nhờ mối quan hệ này mà nhiều sự kiện tiếp theo như kêu gọi vốn cũng như hỗ trợ kỹ thuật công nghệ từ các công ty thép hàng đầu Nhật Bản có rất nhiều thuận lợi.
          Trở về từ Mỹ, theo tiến cử của Park Tae Joon, T.T. Park Chung Hee gặp tổng giám đốc Nishiyama của công ty thép Kawasaki - Nhật Bản. Sau khi tham quan khảo sát các địa điểm khả thi để xây dựng nhà máy thép tích hợp gồm Incheon, Pohang và Ulsan thì Nishiyama nhấn mạnh tầm quan trọng của cảng biển trong việc chọn địa điểm xây dựng nhà máy, lý do nguyên liệu cho nhà máy phải nhập khẩu hầu như 100%. Nishiyama cũng nhấn mạnh phải đầu tư quy mô ít nhất từ một triệu tấn trở lên mới mong có hiệu quả kinh tế[6].
          Trong những năm 1966-67, sau khi bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản, Hàn Quốc được hưởng một số ưu đãi tài chính lớn, cụ thể Nhật Bản đã cung cấp một quỹ tín dụng thương mại giá trị 108.5 triệu USD, mặt khác như một sự bù đắp cho việc gửi quân tham chiến tại Việt Nam, Mỹ cũng chi viện 256.1 triệu USD quỹ tín dụng thương mại cho Hàn Quốc. Tuy vậy nhu cầu tài chính đến rất nhiều ngành, do Hàn Quốc lúc này là một đất nước thuần nông nghiệp và nghèo nàn, do đó chi phí đầu tư cho nhà máy thép tích hợp là một đầu bài nan giải thời bấy giờ.
          Dự án KISA và sự thất bại có giá trị
Năm 1966, bảy công ty công nghệ thiết bị ngành thép từ 5 nước Mỹ, Đức, Anh, Pháp và Ý đã hợp tác với nhau hình thành nên liên danh Korea International Steel Association (KISA). Các thành viên của KISA là các hãng công nghệ và thiết kế và cung cấp thiết bị ngành thép hàng đầu trên thế giới gồm Koppers, Blaw Knox, Westinghouse Electric (Mỹ); Demag, Siemens (Đức); Wellman Engineering (Anh); Societa Italian Impianti SPA (Ý) và Ensid (Pháp).
Dự án KISA tóm tắt như sau: Nhà máy thép tích hợp Hàn Quốc sẽ chia làm 2 giai đoạn xây dựng, giai đoạn một sẽ sản xuất 500 ngàn tấn thép thô hàng năm, giai đoạn hai sẽ mở rộng công suất lên thành một triệu tấn/ năm. Giai đoạn 1 sẽ hoạt động vào 1971 và giai đoạn 2 là 1976 tương ứng với hai chu kỳ kỳ kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm của Hàn Quốc. Quy trình sản xuất do Kisa đề xuất bắt đầu tư luyện than, lò cao, lò basic oxygen, đúc liên tục pillet và slab, cán nóng và cán nguội. Là một nhà máy tích hợp đồng bộ, tuy nhiên việc quyết định quy mô nhà máy bị ảnh hưởng mạnh từ các nhà cung cấp vốn, cụ thể là World Bank, sản lượng 1 triệu tấn không theo kịp nhu cầu tiêu thụ nội địa dự báo của Hàn Quốc là 1.6 triệu tấn vào năm 1976, chưa nói đến giấc mơ xuất khẩu thép của họ. Dự toán cho dự án Kisa là 135 triệu USD, trong đó chính phủ Hàn Quốc sẽ cung cấp 35 triệu USD và Kisa cung cấp 100 triệu USD.
Ngày 3 tháng 10 năm 1967 lễ động thổ nhà máy thép Pohang đã diễn ra hoành tráng tại sân vận động Pohang, Hàn Quốc xem đây là dự án lớn nhất từ thời lập quốc 4300 năm trước. Sau lễ động thổ là các tranh luận về hình thức công ty Posco, tổng thống Park định hướng Posco là một công ty quốc doanh, lý do công ty nhà nước sẽ dể dàng được hỗ trợ tài chính và kêu gọi vốn cũng như miễn giảm thuế, tuy nhiên, nhược điểm là cơ chế giám sát năng nề, cơ chế vận hành có tính quan liêu. Do đó, tổng giám đốc Park Tae Joon một mực phản đối và đề xuất Posco nên là một công ty cổ phần hoạt động dựa trên luật thương mại và chính phủ tham gia với tư cách là cổ đông chính để thu hút các nguồn vốn đầu tư. TGĐ Park nhấn mạnh nếu muốn xây dựng nhà máy thép tích hợp thành công thì phải đảm bảo tính tự chủ kinh doanh, tinh thần trách nhiệm người lãnh đạo và tính linh hoạt của tổ chức. Sau ba lần tranh luận thì tổng thống Park Chung Hee đã đồng ý với TGĐ Park.


Ảnh 3: Tác giả tham quan Kwangyang Steel Works
          Sau khởi công chưa lâu, nhà máy đã gần như làm xong công tác đền bù và giải phóng mặt bằng thì WB lo ngại về tính hiệu quả kinh tế của nhà máy nên đã đổi ý, đòi trì hoãn việc xây dựng nhà máy. Tổ chức phát triển quốc tế của Mỹ lúc đó (AID), tư vấn cho Hàn Quốc chỉ nên đầu tư một nhà máy cán thép nhỏ với công nghệ lò hồ quang EAF, hoặc một nhà máy với chỉ từ dây chuyền cán nóng trở xuống hạ nguồn và nhập khẩu slab để cán. Thách thức này đã biến thành cơ hội khi Hàn Quốc chuyển sang yêu cầu giúp đỡ từ Nhật Bản kể cả tài chính và công nghệ để xây dựng một Posco tầm cở ngày hôm nay.
          Tổng giám đốc Park trong lúc đau đầu tìm kiếm nguồn vốn 100 triệu USD để bù đắp cho phần vốn mà Kisa đã rút lui, đã bất chợt nghĩ ra việc chuyển đổi mục đích sử dụng của quỹ quyền yêu sách đối với Nhật Bản. Còn đúng 100 triệu USD trong quỹ này, nằm trong “300 triệu USD viện trợ không hoàn lại và 200 triệu USD viện trợ có hoàn lại mà chính phủ Nhật Bản rót cho Hàn Quốc trong vòng 10 năm kể từ 1966, những đồng tiền bồi thường thuộc địa nhuốm máu”[7].
          Như vậy nguồn vốn xem như tạm ổn, vậy còn vấn đề ai sẽ cung cấp công nghệ và thiết kế cũng như giám sát thi công lắp đặt và chuyển giao vận hành trong lúc các công ty thép đến từ châu Âu của Kisa đã rút hết? Đến đây, dựa vào các mối quan hệ có từ thời còn sống ở Nhật Bản, dựa vào khả năng tiếng Nhật tuyệt hảo và vốn hiểu biết về văn hóa Nhật Bản, cũng như dựa vào quan hệ hai nước Hàn Nhật lúc đó đã cải thiện rất nhiều, Park Tae Joon đã thuyết phục được các công ty thép lớn của Nhật Bản tham gia hợp tác kỹ thuật trong dự án Posco. Ông bắt đầu liên lạc với Yasuoka, rồi Yasuoka lập tức liên lạc với Inayama, chủ tịch liên minh sắt thép Nhật Bản kiêm tổng giám đốc Yawata Steel Works huyền thoại, tiền thân của Nippon Steel Corporation sau này. Hai bên đi đến kết luận là nếu nhà máy thép Hàn Quốc sử dụng những thiết bị, công nghệ, máy móc, vật tư và kỹ thuật từ Nhật Bản thì sẽ có lợi cho cả hai nước, do hai nước gần gũi về địa lý lại có nhiều điểm tương đồng về văn hóa nên những bất đồng ngôn ngữ sẽ giảm đi. Ngành thép Nhật Bản lúc đó đang ở giai đoạn mạnh nhất và gần như đến xu hướng bảo hòa, do đó hợp tác để phát triển ngành thép với Nhật Bản là một lựa chọn hợp lý để có thể có đầu ra cho các nguồn vốn kỹ thuật, công nghệ và tài chính. Nhật Bản lúc đó không xem Hàn Quốc là một đối thủ cạnh tranh trong tương lai nên đã nhiệt tình giúp đỡ để xây dựng Posco thành công.
          Sau khi dự án Kisa bị đứt gánh giữa đường thì Nippon Steel đã tham gia vào và dự án đã được thiết kế lại với quy mô lớn hơn rất nhiều, dự án bắt đầu triển khai thi công với thiết kế mới từ tháng 4/1970, chỉ sản lượng của giai đoạn 1 thôi đã là 1.03 triệu tấn, lớn bằng cả hai giai đoạn của dự án Kisa gộp lại, đó là chưa nói thiết kế mới từ Nippon Steel đã cho phép Posco nâng công suất của nhà máy Pohang lên đến hơn 17 triệu tấn như ngày hôm nay.
          Dự án Pohang integrated steel works được xây dựng qua 4 giai đoạn, mỗi giai đoạn dài khoảng 2-3 năm, bắt đầu từ 1970 cho đến 1981 với công suất sản xuất tương ứng cho từng giai đoạn là 1.03 triệu, 2.6 triệu,  5.5 triệu và 8.5 triệu tấn, tương ứng với tổng mức đầu tư khoảng 8 tỷ USD. Ngày nay nhà máy Pohang là một integrated works lớn thứ hai trên thế giới, chỉ xếp sau Kwangyang works, cũng của Posco, có sản lượng thép thô sản xuất được là 17.6 triệu tấn vào năm 2015.
          Trong đà chiến thắng của dự án Pohang, Posco tiếp tục thực hiện xây dựng dự án liên hợp thép thứ hai là Kwangyang Steel Works nằm ở vịnh Kwangyang. Dự án Kwangyang cũng triển khai qua 4 giai đoạn, bắt đầu từ  công đoạn khởi công cải tạo đất từ 9/1982, lý do đất ở vịnh Kwangyang không có chân với lớp bùn sâu hàng chục mét, mất 5 năm cải tạo đất, mãi cho đến 4/1987 mới khởi công xây dựng giai đoạn 1 nhà máy phức hợp, triển khai xong 4 giai đoạn và kết thúc giai đoạn 4 vào 8/1997 khi Kwangyang chạy thử thành công dây chuyền cán nguội liên tục số 4, trọn vẹn 10 năm xây dựng một steel works có công suất 11.4 triệu tấn. Ngày nay qua nhiều bước cải tạo và nâng cấp, sản lượng thép thô của Kwangyang works sản xuất năm 2015 đạt con số kỹ lục là 24.4 triệu tấn, lớn hơn gấp đôi so với thiết kế ban đầu. Tổng sản lượng thép Posco sản xuất năm 2015 là 42 triệu tấn, xếp hạng thứ 4 thế giới, chỉ đứng sau Arcelo Mittal, Hesteel, và Nippon Steel.


Đình Long


[1] “GDP bình quân đầu người Hàn Quốc năm 2018 vượt ngưỡng 30.000 USD” http://world.kbs.co.kr/vietnamese/news/news_hotissue_detail.htm?No=10060517
[2] “Hyundai Motor retains fifth place in global sales in 2015” http://www.koreatimes.co.kr/www/news/biz/2016/02/388_197746.html
[3] “Gartner Says Worldwide Semiconductor Revenue Grew 1.5 Percent in 2016” http://www.gartner.com/newsroom/id/3573717
[4] “Nhập khẩu sắt thép Việt Nam cao nhất từ trước đến nay”. http://vneconomy.vn/thi-truong/nhap-khau-sat-thep-viet-nam-cao-nhat-tu-truoc-den-nay-20170123124140453.htm
[5] Vương Dương Minh là nhà chính trị, nhà tư tưởng và nhà triết học xuất sắc Trung Quốc đời nhà Minh. Ông được đánh giá là một trong bốn vị thầy vĩ đại nhất của đạo Nho, sánh ngang với Khổng Tử, Mạnh Tử và Chu Hi. Học thuyết Dương Minh ảnh hưởng rất lớn ở Trung Quốc thời nhà Minh và các nước khác, kể cả ở Việt Nam, đặc biệt là tác động rất mạnh ở Nhật Bản thời bấy giờ
[6] Lee, Dae-hwan.(2015). “Park Tae-joon: A Man of Steel (His Life, Spirit and Leadership)”. Publisher : ASIA
[7] Park Tae Joon người đàn ông của thép –Bản dịch của Ku Su Jeong và Nguyễn Ngọc Tuyền (2009)

Thứ Sáu, 28 tháng 4, 2017

Ngành thép Trung Quốc đứng trước áp lực hợp nhất

The pressure of consolidation in the China steel industry
Ảnh: Lò cao của Baosteel tại nhà máy Trạm Giang, Quảng Đông, Trung Quốc
Ngay từ đầu những năm 2000, Trung Quốc (TQ) đã nhận thấy họ có một ngành thép có độ phân rã quá lớn hay nói cách khác là mức độ tập trung hóa ngành quá thấp (low market concentration). Một thị trường với rất nhiều công ty nhỏ cạnh tranh nhau, không một ai có thể gây ảnh hưởng hoặc dẫn dắt được thị trường, một thị thường rời rạc như vậy mang lại rất nhiều bất lợi, các doanh nghiệp không có lợi thế kinh tế về quy mô, các công ty nhỏ cạnh tranh gay gắt nhau, đầu tư nâng công suất ồ ạt dẫn đến cung vượt cầu, mặt khác, các công ty nhỏ rất khó đầu tư được các máy móc thiết bị và công nghệ mới. Gần đây, sản lượng thép dư thừa hàng năm chiếm đến hơn 10% nhu cầu tiêu thụ đi kèm với các hệ lụy môi trường càng gây sức ép lên chính phủ trong việc thực thi chiến lược nâng cao mức độ tập trung hóa ngành thép. Vào năm 2005, khi sản lượng thép 356 triệu tấn, tăng trưởng 30% so với năm 2004, 273 triệu tấn, TQ nhận thức rõ cung sẽ sớm vượt cầu nếu không có chính sách kiểm soát. Tập trung hóa ngành là một trong các giải pháp, do đó họ đã đặt mục tiêu phải đạt được tỷ lệ tập trung hóa (concentration ratio) ngành thép là 50% đến năm 2010, tức là 10 công ty thép lớn nhất nước sẽ chiếm được một sản lượng ít nhất là 50% tổng sản lượng thép cả nước vào năm 2010 và 70% vào năm 2020 [1]. Tuy nhiên thực thi được chính sách này là không hề dể dàng, lý do vào thời điểm đó nhu cầu thép của TQ rất cao, các công ty thép làm ăn tốt, lợi nhuận cao, đương nhiên họ không mong muốn mình phải sáp nhập vào với ai. Mặt khác, rất khó cân bằng giữa lợi ích của chính quyền trung ương và địa phương, khi mà các công ty thép chính là các cột sống kinh tế quan trọng của các địa phương.
Hậu quả là ngành thép TQ phân bố rất phân tán, năm 2015, top 10 công thép lớn nhất nước chỉ đạt tỷ lệ sản lượng 34.3% trên sản lượng cả nước.
Bảng 1: Top 10 nhà sản xuất thép hàng đầu Trung Quốc trong năm 2015
Xếp hạng
Công ty
Sản lượng thép thô sản xuất năm 2015, triệu tấn
Sản phẩm chính
1
Hesteel Group
47.7
HRC, CRC, GI
2
Baosteel Group
34.9
HRC, CRC, plates, strip
3
Shagang Group
34.2
Springs, bearings, tube
4
Ansteel Group
32.5
CRC, GI, PCM
5
Shougang Group
28.6
Screws, rainforcing bars, round bars
6
Wuhan Steel Group
25.8
HRC, CRC, GI
7
Shandong Steel Group
21.7
Plates, pipes, profiles, strip, wire
8
Maanshan Steel
18.8
Wire rods, billets, pipes
9
Tianjin Bohai Steel
16.3
Plates, coils, billets, pipes
10
Jianlong Group
15.1
HRC, wire, pipes
Nguồn: WSA và Bloomberg
Sự hình thành Hesteel (Hebei Iron & Steel Group - HBIS) - 2008
Năm 2008, hai công ty thép lớn nhất tỉnh Hà Bắc là Tangsteel và Hansteel đã sáp nhập lại với nhau  hình thành nên Hesteel hay Hebei Steel, do trước đó đã khá nhiều vụ sáp nhập các công ty khác với Tangsteel cũng như Hansteel nên sau khi sáp nhập vào năm 2008 thì Hebei Steel đã có trong tay 7 công ty con gồm Tangshan Steel, Xuanhua Steel, Chengde Steel, Handan Steel, Wuyang Steel, Henshui Steel Sheet and Shougang Jingtang Iron and Steel
Trước đó, vào năm 2005, tỉnh Hà Bắc có đến 202 nhà máy thép, tuy nhiên phần lớn là các nhà máy nhỏ. Hai nhà máy lớn nhất lúc đó là Tangshan Steel & Iron có sản lượng năm 2005 là 7.6 triệu tấn, và nhà máy Handan Iron & Steel có sản lượng 6.8 triệu tấn, cả hai nhà máy đều là thuộc sở hữu nhà nước. Lúc đó, chính quyền tỉnh Hà Bắc đã có mong muốn sáp nhập 202 công ty thép này tạo nên thành 40 công ty lớn.
Năm 2007, Tangshan Iron and Steel Corp, sản xuất 22.75 triệu tấn thép thô, trong khi đó Handan Iron and Steel Corp sản xuấy được 9 triệu tấn. Sau sáp nhập, Hebei Steel sẽ có công suất hơn 30 triệu tấn / năm[2]. Số liệu ở bảng 1 cho thấy sản lượng năm 2015 của Hebei Steel là 47.7 triệu tấn, là steelmaker lớn nhất TQ từ lúc sáp nhập cho đến nay và đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Arcelor Mittal (92.5 triệu tấn năm 2015). Tuy nhiên đến năm 2016-2017 thì vị trí thứ nhất của Hebei Steel sẽ thuộc về tay Baosteel (Baoshan Iron and Steel) sau thương vụ sáp nhập Wuhan Iron and Steel.
Baosteel sáp nhập Wuhan Iron & Steel, trở thành nhà sản xuất thép lớn nhất TQ và là nhà sản xuất thép lớn thứ hai thế giới[3] - 2016
Theo một nguồn tin của Bloomberg, chính phủ TQ sẽ quyết liệt thực thi định hướng sáp nhập ngành thép của họ, đặc biệt sẽ định hướng sau các vụ sáp nhập lớn thì cả nước sẽ có hai gã khổng lồ (giant) sản xuất thép, một ở phía nam và một ở phía Bắc[4].
Theo đó Hebei Steel và Shougang sẽ sáp nhập với nhau tạo thành công ty thép Miền Bắc (Northern China Steel Group), trong khi đó Baosteel sáp nhập với Wuhan (Vũ Hán) tạo thành công ty thép Miền Nam (Southern China Steel Group), một nỗ lực vừa tập trung hóa được ngành thép và kiểm soát sản lượng, mặt khác nâng tầm quy mô lên để cạnh tranh dần dần với người khổng lồ thép thế giới là Arcelor Mittal (Với sản lượng thép thô là 90.8 triệu tấn năm 2016 giảm so với 92.5 triệu tấn năm 2015).
Bảng 2: Top 10 nhà sản xuất thép hàng đầu thế giới trong năm 2015
Xếp hạng
Công ty
Sản lượng thép thô sản xuất năm 2015, triệu tấn
1
Arcelor Mittal
97.1
2
Hebei Steel Group
47.7
3
Nippon Steel and Sumitomo Metal Corporation
46.4
4
POSCO
42
5
Baosteel Group
34.9
6
Shagang Group
34.2
7
Ansteel Group
32.5
8
JFE Steel Corporation
29.8
9
Shougang Group
28.6
10
Tata Steel Group
26.3
Nguồn: WSA
Ngày 23 tháng 9 năm 2016, Baosteel chính thức sáp nhập với đối thủ nhỏ hơn, là Wuhan I&S (Wisco), là một công ty thép hàng đầu của tỉnh Vũ Hán. Baosteel làm một công ty thép thuộc sở hữu nhà nước, là một nhà sản xuất thép hàng đầu TQ kể cả về quy mô và chất lượng sản phẩm, máy móc thiết bị tiên tiến và phần lớn là nhập khẩu từ Châu Âu và Nhật Bản, định hướng công nghệ xanh, với chiến lược đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại, Baosteel luôn là một công ty thép có lợi nhuận tốt. Trong lúc Wisco là một công ty có gánh nặng nợ lớn và chỉ chờ có người ứng cứu. Thương vụ sáp nhập này được cho là một cuộc hôn nhân sắp đặt, rõ ràng là không hài lòng về phía Baosteel khi đang phải chật vật tồn tại mà phải chia sẽ lợi nhuận để cứu Wuhan.
Việc sáp nhập hai ông lớn này lại với nhau mà không cần phải cắt giảm sản lượng tổng cộng, lý do cả hai công ty đều đầu tư các nhà máy khá mới với trang thiết bị và công nghệ tiên tiến và đã thải loại các công nghệ cũ thời gian gần đây. Dựa trên sản lượng năm 2015 (bảng 1) của hai công ty thì sau sáp nhập công suất của Baosteel, lúc này gọi là Baowu (Bao Vũ), sẽ hơn 60 triệu tấn /năm, vượt qua “liên minh” Hebei Steel để xếp hạng thứ nhất TQ và vượt qua Hebei Steel để đứng thứ nhì thế giới.
Tiếp theo là thương vụ hợp nhất giữa Ansteel và Benxi Steel
Hai công ty khá đồng nhất về cơ sở vật chất và thị trường và cả hai đều thuộc tỉnh Liêu Ninh (Liaoning), thương vụ hợp nhất này đã được chính phủ TQ đưa vào kế hoạch khá lâu, ngay từ những năm 2005 [5], tuy nhiên đến nay vẫn chưa thành hiện thực. Lý do là Ansteel thuộc sự quản lý của chính quyền trung ương, trong lúc Benxi lại trực thuộc tỉnh Liêu Ninh, sự thất bại trong đàm phán được cho là do không thống nhất được việc ghi nhận doanh thu và thuế thuộc trung ương hay địa phương cũng như không phân định được ai có trách nhiệm tái phân bố lực lượng lao động[6]. Bản thân Ansteel là kết quả của thương vụ sáp nhập giữa Anshan Steel và Panzhihua Steel (thuộc tỉnh Tứ Xuyên) vào năm 2010[7]. Cả hai công ty đều trực thuộc chính quyền trung ương nên việc sáp nhập khá dể dàng.
Năm 2016 câu chuyện sáp nhập này lại tiếp tục đưa ra thảo luận trong một nỗ lực tập trung hóa ngành thép của chính phủ TQ. Giả sử lấy sản lượng thực tế năm 2015 để tính thì sản lượng của Ansteel là 32.5 triệu tấn cộng với sản lượng của Benxi Steel là 15 triệu tấn sẽ ra tạo ra một sản lượng không hề nhỏ - 47.5 triệu tấn, xếp hạng thứ ba, thứ tư thế giới!

Đình Long




[1] “Hebei steel companies to consolidate” http://www.chinadaily.com.cn/bizchina/2005-11/17/content_584177.htm
[2] “Large steel group emerges in Hebei” http://www.chinadaily.com.cn/business/2008-06/12/content_6756099.htm
[3] “China Baosteel's takeover of Wuhan to create world's No. 2 steelmaker” http://www.reuters.com/article/us-china-baosteel-mergers-idUSKCN11Q0U3
[4] “China Said to Mull Mergers to Create Two State Steel Giants” https://www.bloomberg.com/news/articles/2016-08-01/china-said-to-consider-mergers-to-create-two-state-steel-giants-irbltcmf
[5] “Progress in Anshan and Benxi steel merger by the year end” http://www.langesteel.com/onews.asp?id=30527 (Source: China Daily, 26/6/2010)
[6] “Ansteel, Benxi Steel to make new merger effort” http://www.globaltimes.cn/content/1007362.shtml
[7] “China approves Anshan Steel merger with Panzhihua” http://www.reuters.com/article/us-china-steel-merger-idUSTRE64O2G020100525

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

Các thương vụ sáp nhập lớn của ngành thép Nhật Bản

The major mergers of Japanese steel industry recently
Ngành thép trên thế giới đứng trước áp lực toàn cầu hóa, bên cạnh đó là sự đòi hỏi khắc nghiệt về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao lợi thế kinh tế về quy mô. Dưới sức ép của các áp lực trên, xu hướng tập trung hóa trong ngành thép thế giới ngày càng tăng, các nhà sản xuất lớn nhất Nhật Bản cũng không ngoại lệ, mức độ tập trung hóa ngành thép ngày càng cao thông qua các thương vụ hợp nhất liên tục trong thời gian qua.
Thương vụ mới nhất: Nippon Steel and Sumitomo Metal Corporation mua Nisshin Steel (2017)
Ngày 3 tháng 7 năm 2017,  Nippon Steel and Sumitomo Metal Corporation (NSSMC) đã hoàn tất thương vụ mua công ty Nisshin Steel[1], công ty thép đứng thứ tư ở Nhật Bản về sản lượng thép thô sản xuất[2], đồng thời cũng là một công ty chuyên về thép mạ hợp kim nhôm, kẽm và ma giê, thép đặc biệt, thép không rỉ, CRC và HRC. NSSMC đã chi khoảng 651 triệu USD để nâng tỷ lệ sở hữu tại Nisshin từ 8.3% lên 51%, và Nisshin Steel chính thức trở thành công ty con của Nippon Steel.
Đã từ lâu, ngành thép Nhật Bản là một ngành có mức độ tập trung hóa cao (high market concentration), phần lớn sản lượng nằm trong tay bốn công ty lớn: Nippon Steel, JFE, Kobe và Nisshin, tổng sản lượng sản xuất của bốn công ty này năm 2016 chiếm đến 82% lượng sản xuất cả nước, tương tự là 81% trong năm 2015.
Bảng 1: Các nhà sản xuất thép hàng đầu Nhật Bản trong năm 2015 & 2016
Xếp hạng
Công ty
Sản lượng thép thô sản xuất năm 2015, triệu tấn
Sản lượng thép thô sản xuất năm 2016, triệu tấn
1
Nippon Steel and Sumitomo Metal Corporation
44.5
45.3
2
JFE Steel Corporation
29.7
30.5
3
Kobe Steel, Ltd.
7.5
7.2
4
Nisshin Steel Co.,Ltd.
3.98
2.8
Nguồn: WSA và báo cáo tài chính các của công ty trên
Sau khi sáp nhập Nippon Steel sẽ dẫn đầu thị phần thép mạ kẽm, hợp kim nhôm kẽm và ma giê tại thị trường trong nước. Theo luật chống độc quyền, cả hai bên đã đồng ý sẽ chuyển giao công nghệ và thương hiệu ZAM[3] cho bên thứ ba, đây một loại công nghệ mạ kẽm mới có chứa Nhôm và Ma-giê đang được phát triển trên thế giới thời gian gần đây (Kẽm + 6% Nhôm + 3% Ma giê), lý do Nippon Steel cũng có công nghệ tương tự với thương hiệu SuperDyma[4] và cả hai công ty chiếm 100% thị phần sản phẩm mạ này ở Nhật Bản nên Ủy ban Thương Mại công bằng Nhật Bản (Japan's Fair Trade Commission – FTC) đã yêu cầu phải chuyển giao công nghệ này cho một công ty khác để đảm bảo tính không độc quyền, Kobe Steel, nhà sản xuất thép lớn thứ ba ở Nhật Bản, được xem là một đối tác tiềm năng để chuyển giao[5].
Ngoài ra Nippon Steel & Sumikin Stainless Steel (NSSC) là một công ty con của Nippon Steel hiện tại là nhà sản xuất thép không rỉ lớn thứ nhất ở Nhật Bản (Nisshin là công ty lớn thứ hai), sau khi mua lại Nisshin thì Nippon Steel chiếm hơn 50% thị phần thép không rỉ của Nhật Bản
Vụ sáp nhập này không phải chỉ đem lại lợi ích cho chỉ Nippon Steel mà nó được xem là có lợi cho cả hai bên. Nisshin Steel đã ghi nhận lỗ khá nhiều năm, các chỉ số tài chính đều xấu hơn của Nippon Steel, lý do thị trường thép không rỉ vốn cạnh tranh rất gay gắt hơn là thị trường thép chất lượng cao của Nippon Steel. Thua lỗ liên tục nên Nisshin đã quyết định đóng cửa một lò cao vào năm 2015
Sau thương vụ sáp nhập này thì thị trường thép Nhật Bản càng trở nên tập trung hơn, khi mà phần lớn năng lực sản xuất thuộc về top ba nhà sản xuất thép bằng lò cao lớn nhất đất nước, mà đứng đầu là Nippon Steel & Sumitomo, tiếp theo là JFE Holdings, đứng thứ ba là Kobe Steel. Nippon Steel có năng lực sản xuất khoảng 47 triệu tấn thép thô / năm, nó sở hữu 14 lò cao tại Nhật Bản, 2 trong số chúng sẽ ngừng hoạt động trong năm 2018 [6].
Trung bình trong năm năm từ 2012-2016, sản lượng của ba ông lớn Nippon Steel & Sumitomo, JFE Holdings và Kobe Steel chiếm đến 78% thị trường thép Nhật Bản, với sản lượng thép thô bình quân năm năm qua xếp lần lượt là 46 triệu tấn, 30 triệu tấn và 7.3 triệu tấn. Nippon Steel & Sumitomo, JFE Holdings và Kobe Steel chiếm lần lượt là 43%, 28% và 7% tổng sản lượng cả nước [7]
Nippon Steel Corp sáp nhập Sumitomo Metal Industries – 2012[8]
Đây là thương vụ sáp nhập lớn nhất ngành thép Nhật Bản kể từ vụ sáp nhập giữa Yawata Steel và Fuji Steel hình thành nên Nippon Steel vào năm 1970, lớn hơn cả thương vụ sáp nhập vào năm 2002 giữa Kawasaki Steel và NKK Corp hình thành nên JFE Holdings
Trước khi sáp nhập, năm 2011, sản lượng của Nippon Steel là 33.3 triệu tấn trong khi sản lượng của Sumitomo Metal In. là 12.7 triệu tấn. Sau sáp nhập năng lực sản xuất của NSSMC là 46 triệu tấn, chỉ xếp thứ hai thế giới sau Arcelor Mittal lúc đó sản lượng đạt 92 triệu tấn. Tài sản phân bố là 70% của Nippon Steel và 30% của Sumitomo Metal, mặc dù là nói sáp nhập công bằng, tuy nhiên thực tế là Nippon Steel nắm quyền điều khiển công ty.
Mục đích của cuộc sáp nhập là tái cấu trúc hai công ty theo hướng hiệu quả hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến lược toàn cầu hóa  do cả hai công ty đều có thế mạnh bởi có mạng lưới công ty con ở nước ngoài. Gia tăng lợi thế cạnh tranh cả về mặt quy mô, chi phí, công nghệ và dịch vụ khách hàng. Ngoài ra theo một số nguồn tin không chính thức thì cuộc sáp nhập còn có mục đích tránh bị đối thủ nước ngoài thôn tính, đặc biệt là một đối thủ tiềm năng là Arcelor Mittal
JFE Holdings – Kết quả của thương vụ hợp nhất 50/50 giữa Kawasaki Steel và NKK Corp - 2002
JFE Holdings hiện là là công ty sản xuất thép lớn thứ 8 trên thế giới với sản lượng năm 2015 là 29.8 triệu tấn. Đây là kết quả của vụ sáp nhập lớn thứ hai trong ngành thép Nhật Bản, sau thương vụ sáp nhập giữa Nippon Steel và Sumitomo Metal. Tài sản hình thành là 50/50 từ NKK Corp (Nihon Kōkan Kabushiki-gaisha), lúc đó là nhà sản xuất thép lớn thứ hai của Nhật Bản và Kawasaki Steel, lúc đó là nhà sản xuất lớn thứ ba Nhật Bản. Cả hai công ty vốn là những nhà đóng tàu quân sự chính của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai. Vụ sáp nhập này được cho là dể dàng thành công vì lý do hai công ty rất tương đồng về văn hóa và nguồn gốc, tài sản ngang nhau. Lúc đó cả NKK và Kawasaki đều có sản lượng tương đương nhau, khoảng 12-13 triệu tấn/năm.
Đình Long



[1] "NSSMC and Nisshin Steel’s Joint Statement" http://www.nssmc.com/en/company/message/nisshin.html
[2] Sản lượng thép thô của Nisshin khoảng 4 triệu tấn /năm được sản xuất bởi 2 lò cao của họ tại Kure Works ở tỉnh Hisroshima. Sản lượng thép không rỉ khoảng 800,000 tấn/năm được sản xuất bởi hai lò hồ quang
[3] Thương hiệu đăng ký của Nisshin Steel. http://www.zam.biz/en/about/
[4] Thương hiệu đăng ký của Nippon Steel & Sumitomo Metal Corporation
[5] "Nippon Steel, Nisshin shedding problematic assets ahead of buyout" http://asia.nikkei.com/Business/Deals/Nippon-Steel-Nisshin-shedding-problematic-assets-ahead-of-buyout
[6] "Japan's Nippon Steel to take control of smaller rival as supply glut bites" http://www.reuters.com/article/nisshin-steel-nippon-steel-idUSL3N15F0SL
[7] Tác giả thống kê từ báo cáo thường niên của 3 công ty thép Nhật Bản: Nippon Steel & Sumitomo Metal Corp, JFE Holdings và Kobe Steel
[8] "Nippon Steel & Sumitomo Metal Corporation was founded" http://www.nssmc.com/en/news/20121001_01.html